Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Báo Nga: Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận

Tác giả: Vladimir Korjagin
«Газета.Ru» miêu tả một trong những xung đột lãnh thổ lâu đời nhất ở Châu Á

  Sự đối đầu ở Biển Đông giữa các quốc gia bao gồm một số xung đột lãnh thổ mà một phía là Trung Quốc. Các sự kiện gần đây cho thấy các xung đột tưởng chừng đã ngủ yên có thể lại bùng phát dữ dội. Газета.Ru dẫn giải, tại sao Hoàng Sa là của Việt Nam
400 năm vắng bóng Trung Quốc
   Vào thế kỷ 20 Biển Đông trở thành một trong những điểm nóng tiềm năng, nơi xung đột có thể dẫn đến Thế chiến thứ ba. Tuy nhiên tranh chấp về một số vùng lãnh thổ ở đây lại có lịch sử ít ra vài thế kỷ.
   Để chứng minh quyền làm chủ của mình đối với những hòn đảo trên biển, các bên sử dụng bằng chứng chủ yếu là các bản đồ và chỉ dẫn hàng hải cổ có ghi nhận những vùng lãnh thổ trên.
    Quần đảo Parasel lần đầu tiên được ghi nhận vào thế kỷ 17 trong tập bản đồ của Việt Nam “ Toàn tập Thiên Nam Tứ chí lộ đồ thư” và cùng với các đảo ở Spratly được gọi là “Bãi Cát vàng”. Các cứ liệu lịch sử cho thấy, năm 1721 đã thành lập Hải Đội Hoàng Sa (tên Việt Nam của Parasel) để khai thác tập trung các nguồn lợi của các đảo và để tiếp tế cho các thuyền đi về các đảo.

    Trong khi đó tư liệu phía Trung Quốc, bao gồm cả tài liệu mô tả Đại Thanh không nhắc gì về Parasel và Spratly.
   Chỉ có các nhà hàng hải Pháp và Hà Lan hiếm hoi có dịp vượt biển Đông đi đến Việt Nam nói về quần đảo Parasel. Họ viết về chuyện người Việt Nam đã thu nhận được nhiều súng đạn, đồ vật quý từ các tàu biển bị bão gió đánh chìm tại khu vực các hòn đảo trên. Người Việt Nam năng động đã thành lập một thuỷ đội không lớn có nhiệm vụ kiểm soát tàu nước ngoài làm ăn tại khu vực Parasel.

    Vào đầu thế kỷ 19 Gia Long-vị vua đầu triều Nguyễn- đã tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa ( Spratly). Vào thời gian này đã xuất bản nhiều bản đồ, trong đó Hoàng Sa được ghi nhận là lãnh thổ Việt Nam. Năm 1838 Nhà truyền đạo Pháp Jean-Louis Taber đã xuất bản quyển Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum, gọi đơn giản là Từ điển Latin – Việt, trong đó Hoàng Sa được ghi là Paracel seu Cát vàng.
Cái tên châu Âu “Pracel”của những hòn đảo này do nhà trắc địa Đức Willem Janszoon Blaeu gọi. Rồi các nhà hàng hải Pháp gọi chệch ra thành «Le Paracel»

Vào cuối thế kỷ 19 có hai tàu biển của Vương Quốc Anh chở đồng bị chìm tại Parasel. Người dân tỉnh Hải Nam của Trung Quốc đã vớt lấy kim loại có giá này cho mình. Chính quyền Anh Quốc đã phản kháng về việc này. Khi đó người Trung Quốc trả lời rằng các đảo Parasel không thuộc lãnh thổ của họ, nên chính quyền Trung Quốc không chịu trách nhiệm về những gì xảy ra ở các đảo đó.
Bá quyền trỗi dậy
    Thời Pháp cai trị tình hình trên có thể vẫn nguyên trạng nếu như không xảy ra đối đầu giữa Vương Quốc Anh và Pháp, mà Trung Quốc và Việt Nam mỗi nước đứng về một phía trong cuộc đối đầu này. Năm 1933 xuất bản cuốn “ Bản đồ phân khu hành chính mới Trung Quốc”, trong đó Parasel và Spratly bị gọi bằng tên Trung Quốc là Tây Sa và Nam Sa và bị đưa vào lãnh thổ tỉnh Quảng Đông.

   Trước hành động đó chính quyền thực dân Pháp đã hành động đáp trả: Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié đã lập đơn vị hành chính Parasel và đặt ở đó tấm bia đá có khắc chữ: “Cộng Hoà Pháp – Vương Quốc An Nam – Quần đảo Parasel Năm 1816”
   Cũng vào thời gian ấy Nhật bản trỗi dậy, chiếm các đảo Spratly, và sau đó đầu Chiến tranh thế giới thứ hai chiếm Parasel.
    Năm 1946 người Việt Nam và Pháp đã tiến ra Parasel để tước vũ khí lính Nhật, nhưng quân Trung Quốc đã đến trước. Họ giữ đảo một ngày đêm. Đến năm 1947 Tưởng Giới Thạch ra sắc lệnh chính thức đặt tên Trung Quốc cho hai quần đảo Parasel và Spratly và coi đó là lãnh thổ Trung Quốc. Bắc Kinh đã bỏ qua phản đối của chính phủ Pháp và Việt Nam.
Khi Tưởng Giới Thạch và quân Quốc dân đảng chạy ra Đài Loan, các đội quân của họ cũng chạy khỏi Parasel. Tuy nhiên chính quyền cộng sản đứng đầu là Mao Trạch Đông đã tuyên bố tham vọng đối với quần đảo. Thời gian đó nước Nhật công khai từ bỏ mọi quyền và đòi hỏi đối với quần đảo Parasel và Spratly. Đó là một trong những điểm trong Hiệp định đình chiến ký tại San-Francisco năm 1951.

   Năm 1956 quân đội viễn chinh Pháp hoàn toàn rời khỏi Việt Nam. Người Việt Nam, khi đó bị chia thành hai quốc gia, buộc phải chống chọi với sự bành trướng của Trung Quốc bằng sức của mình, dù rằng sau đó có thể trông cậy vào sự trợ giúp trực tiếp của Mỹ. Cũng năm 1956, Trung Quốc chiếm một phần Parasel, người Việt Nam giữ phần do các đơn vị quân Pháp đóng trước đó.
    Tình huống căng thẳng xảy ra năm 1959, khi Trung Quốc cho đổ bộ 80 người cùng nguyên vật liệu, dựng công trình và treo cờ Trung Quốc. Lính biên phòng Nam Việt Nam ngay lập tức đến khu vực đảo bắt giữ tất cả những người đó. Bắc Kinh chỉ giới hạn phản ứng qua tuyên bố ở tầm Bộ Ngoại Giao, vì họ sợ chạm trán với các lực lượng Mỹ đến giúp binh sỹ Nam Việt Nam.

   Năm 1964 Trung Quốc ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến giữa Nam và Bắc Việt Nam. Bắc Việt Nam có sự ủng hộ truyền thống của Liên Xô và Trung Quốc.
    Trung Quốc đã lợi dụng thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam để phục vụ quyền lợi của mình – từ năm 1971 họ đã bắt đầu bình thường hoá với Mỹ. Điều này giúp họ hợp pháp hoá những đòi hỏi của họ đối với quần đảo Parasel. Năm 1974 đã diễn ra cuộc đánh chiếm quần đảo. Khi đó Mỹ đang chuẩn bị ký kết Hiệp định hoà bình cho cuộc chiến Việt Nam. Thời gian này quân Mỹ rời khỏi các vị trí then chốt ở Nam Việt Nam, Bắc Việt Nam khi đó tập trung sức để cho cuộc chiến cuối cùng giành Sài gòn.
   Trung Quốc đã chiếm được quần đảo Parasel một mặt vì hải quân Nam Việt Nam nhỏ yếu nếu thiếu sự trợ giúp của Mỹ, mà Mỹ và Trung Quốc khi đó đã không còn là kẻ thù của nhau. Mặt khác, Bắc Việt Nam, phía mà sau chiến thắng với Nam Việt Nam có thể đòi quần đảo, khi đó bị hút vào cuộc chiến.

Vậy là Trung Quốc đã quyết chiếm đóng Parasel. Để thực hiện việc này cần một cái cớ, và tuyên bố của Nam Việt Nam về việc quần đảo Spratly thuộc tỉnh Phước Tuy đã là cái cớ đó. Trong hai mươi ngày đầu của tháng giêng năm 1974 Trung Quốc chiếm Parasel, tàn sát dã man đơn vị đóng quân trên quần đảo đó, và chuẩn bị tiến về phía Spratly.
Bắc Kinh sinh sự
   Từ đó đến nay lập trường của Bắc Kinh đối với Biển Đông không hề có thay đổi thực tế nào. Trong thời gian đó đã có quá trình hợp tác với ASEAN và hình thành khu vực tự do mậu dịch. Tuy nhiên, đầu thập kỷ 90 gần quần đảo Parasel có phát hiện dầu mỏ và khí đốt, điều này làm nóng ruột Bắc Kinh trong suốt những năm qua. Những va chạm cục bộ trên Biển Đông đã diễn ra nhiều năm, nhưng chưa bao giờ đến mức đối đầu quân sự. Các bên chủ yếu bắt giữ tàu cá của nhau, có những cuộc khiêu khích. Bắc Kinh đặc biệt nổi bật trong những chuyện này.

   Tình huống như vậy ép buộc nhiều nước trong khu vực ngả về phía Hoa Kỳ. Sau khi nhậm chức, Tổng thống Barack Obama bắt đầu dùng khái niệm “ Xoay trục sang Châu Á”, và người đại diện cho chính sách đó là bà Hillary Clinton.
   Từ cuối tháng 4 năm nay Biển Đông trở nên căng thẳng. Chính quyền Bắc Kinh thông qua tuyên bố của Bộ Ngoại giao thông báo cho Việt Nam việc đưa đến vùng biển Parasel giàn khoan HD-981 lớn gấp đôi sân bóng đá. Và có tới 60 tàu bảo vệ đi theo giàn khoan đó. Dĩ nhiên Hà Nội không thể không nhận thấy điều này và phải điều đến đó tàu cảnh sát biển.
Trong nhiều ngày diễn ra các chạm trán, phía Trung Quốc dùng súng vòi rồng. Tất cả những điều trên diễn ra không phải trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Nhà Trắng lên án hành động quá đáng của Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á cũng không bỏ qua. Những sự biến bất ngờ diễn ra ngay trong Việt Nam: Nếu đầu năm 2014 chỉ có 20 người xuống đường vào ngày kỷ niệm 40 năm Trung Quốc chiếm Parasel, thì bây giờ 20 ngàn người Hà Nội xuống đường.
   Các cuộc mít tinh tự phát nhanh chóng biến thành đập phá. Có 21 người chết, trong số đó không chỉ người Trung Quốc, mà cả người Đài Loan, Singapore và Malaysia (ND : con số này không chính xác. Các báo Nga đã đưa lại bản tin đầu của Reuters, sau đó Reuters đã đính chính, nhưng ở Nga vẫn theo con số cũ)
   E ngại gia tăng bạo lực, Trung Quốc gửi một số tàu sang Việt Nam để đưa công dân của mình về nước. Từ thời điểm đó những nhà máy có nguồn gốc Trung Quốc tại lãnh thổ Việt Nam ngừng hoạt động (ND: thông tin này cũng không cập nhật). Trong khi đó Hoa Kỳ lên án Trung Quốc gây mất ổn định ở Biển Đông và kêu gọi Việt Nam sử dụng các thiết chế pháp lý để chống lại việc Trung Quốc triển khai khai thác dầu khí tại các vùng lãnh thổ tranh chấp ở Biển Đông.

Tuy nhiên phía Trung Quốc không trả lời có tính xây dựng đối với các yêu cầu từ các đại diện của cộng đồng quốc tế.

“Газета.Ru» đã toạ đàm với các chuyên gia hàng đầu về Biển Đông và về quan hệ Việt-Trung để làm rõ thực chất tình hình và triển vọng nào cho việc giải quyết xung đột.
Vị đầu tiên là Gregory Lokshin (Григорий Локшин), Phó tiến sỹ sử học, cộng tác viên chính của Trung tâm nghiên cứu Việt Nam, ASEAN thuộc Viện Viễn Đông (PAH)

    ”Tôi cho rằng việc hạ đặt giàn khoan Trung Quốc tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là sự vi phạm thô bạo Luật Quốc tế, Công ước Biển năm 1982, do đó đối với tôi ở đây mọi cái rõ ràng.
    Tương lai hoặc là Trung Quốc chọn chính sách tiếp tục cứng rắn thêm trong quan điểm của mình, chính sách tấn công mà họ đã thực hiện nhiều năm qua nhằm chứng minh Biển Đông là cái “ao nhà của Trung Quốc”, vì đòi hỏi của Trung Quốc là với 90% diện tích Biển Đông.
    Hoặc là Trung Quốc dẫu sao vẫn sẽ bắt đầu cải thiện quan hệ với láng giềng – không chỉ Việt Nam mà còn Philipin, Malaysia, Bruney - những quốc gia có đòi hỏi thực tế và hợp pháp phần của mình trong vùng nước phù hợp với các Công ước và quan hệ quốc tế.
    Trung Quốc đơn giản là coi thường các thoả thuận đã có trong khuôn khổ ASEAN, do là các thoả thuận có tính tuyên bố, không mang tính chất ràng buộc pháp lý. Đó không phải là bộ Quy tắc. Có “Tuyên bố về nguyên tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông”. Nó được thông qua năm 2002. Nhưng đáng tiếc trong suốt thời gian từ đó tuyên bố và hành động không đi đôi. Có sự vi phạm từ tất cả các bên, đặc biệt là từ phía Trung Quốc – là vi phạm đơn phương, chính sách biến thành việc đã rồi và nhiều cái khác nữa.
    Làn sóng dân tộc chủ nghĩa ở Việt Nam là do chính sách của Trung Quốc đã gây nên sự bất bình nghiêm trọng. Cá nhân tôi đã từng đến các đảo, đặc biệt là đảo Lý Sơn, cách điểm hạ đặt giàn khoan khoảng 100 hải lý. Tất cả vùng bờ biển Việt Nam gồm những tỉnh lớn, nơi hàng triệu người dân sống nhờ khai thác cá và các hải sản của Biển Đông.
    Và khi mà không cho họ đi ra biển, không cho đến vùng mà một chức sắc Quốc dân đảng đánh dấu khoanh vào năm 1947, rồi tuyên bố rằng đây là lãnh thổ Trung Quốc, đừng có vào, rồi truy bắt những chiếc thuyền nhỏ khốn khó đó (họ cũng có đánh bắt được nhiều nhặn gì cho cam), dùng mọi loại tàu xuồng đuổi họ ra khỏi nơi đó – cái cách hành xử đó sẽ gây phản ứng ra sao ở một đất nước vẫn còn ký ức lịch sử về ngàn năm áp bức của Trung Quốc đối với Việt Nam?. Tuy nhiên sự bất bình này cũng đã mang lại tác hại cho chính Việt Nam”- Ông Локшин nói.

Ivan Melnikov (Иван Мельников), Phó chủ tịch Ban chấp hành TƯ Đảng Cộng sản Nga, Phó Chủ tịch thứ nhất Duma quốc gia Nga, đồng ý đưa ra nhận xét:
   “ Cả Trung Quốc, cả Việt Nam đều có quyền lợi ở khu vực Châu Á – Thái Bình dương. Có những vấn đề tranh cãi kinh niên, kể cả về lãnh thổ, khi mà các quyền lợi mâu thuẫn. Ai cũng biết, lịch sử từng chứng kiến các xung đột vũ trang giữa hai nước.
    Trong khi đó, nếu nói theo ngôn ngữ ngoại giao, nước Nga có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với cả hai nước. Nói theo quan hệ giản dị của con người, thì có tình bạn hữu chân thành. Vì vậy đương nhiên, logic và đúng đắn thì chúng ta không được đứng về bên nào trong những vấn đề đó.
Quan điểm của nước Nga phải xây dựng trên nền tảng không để xảy ra đổ máu trong giải quyết các vấn đề tranh cãi. Dựa vào các tài liệu quốc tế về các vấn đề này được công nhận rộng rãi, trong đó có sự công nhận của cả Trung Quốc và Việt Nam.
    Mong muốn hai nước hữu nghị với chúng ta tìm được con đường dẫn đến trạng thái quan hệ mà tháng 10 năm ngoái đã được xác định trong cuộc gặp gỡ tại Hà Nội giữa hai thủ tướng Lý Khắc Cường và Nguyễn Tấn Dũng , có đột phá trong quan hệ song phương ở một loạt lĩnh vực. Khi đó tất cả bạn bè của Trung Quốc và bạn bè của Việt Nam đã thấy lịch trình tích cực rộng lớn của quan hệ Trung – Việt. Tiềm năng đó nay vẫn còn, cần phải tìm đòn bẩy trong đó.”

«Газете.Ru» đã liên lạc được với giáo sư Carl Thayer của Học viện Quốc phòng Úc, một trong các chuyên gia hàng đầu về Biển Đông.
   “ Cuộc khủng hoảng khởi nguồn bởi việc hạ đặt giàn khoan Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đã vào ngõ cụt. Trung Quốc đưa hơn 100 tàu và máy bay quân sự đến đó. Việt Nam không có ý định rút lui khỏi lãnh thổ của mình và đang thách thức sự hiện diện của Trung Quốc trong vùng nước của Việt Nam. Chỉ một sai sót nhỏ nhất là sự cố đe doạ chuyển thành chiến tranh quy mô lớn. Tuy nhiên tạm thời cả hai bên đều tránh đối đầu quân sự công khai.
    Các bộ trưởng ngoại giao ASEAN đã ra một tuyên bố riêng bày tỏ quan ngại sâu sắc về tình hình. Tuy nhiên các nguyên thủ ASEAn sau cuộc gặp cấp cao không đưa ra tuyên bố nào. ASEAN sẽ không chống lại Trung Quốc, mà sẽ vẫn làm việc với Trung Quốc. Một số nước riêng rẽ của ASEAN, như Philipin, Malaysia, Singapore và Indonesia sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ từ phía Mỹ.
Hoa Kỳ có quan điểm trung lập trong các cuộc tranh cãi về biển. Cuộc xung đột xung quanh giàn khoan đã làm rõ khoảng cách giữa lời nói của Mỹ và khả năng Mỹ có thể thực hiện các biện pháp có hiệu quả. Người Mỹ e ngại việc trừng phạt Trung Quốc và sẽ không trực tiếp tác động vào tình huống.
   Nước Nga đứng trước nan đề. Cả hai nước đều là đối tác chiến lược và Nga cung cấp vũ khí hiện đại cho cả hai. Tôi cho rằng Nga sẽ kêu gọi hai bên giải quyết xung đột một cách hoà bình.

«Газете.Ru» nhận được ý kiến của Nikolai Kolesnik (Николай Колесник), Chủ tịch đoàn chủ tịch của tổ chức xã hội liên khu vực các cựu chiến binh ở Việt Nam

    “Cứ tưởng rằng hai hai nhà nước, có lịch sử ngàn năm , có sự giao thoa văn hoá và tôn giáo, có mối quan hệ dân tộc và kinh tế chặt chẽ, và cái chính – có thể chế chính trị-xã hội giống nhau, có thể giải quyết hoà bình tất cả các tranh cãi, nhưng mà lại…
    Cá nhân tôi cho rằng trách nhiệm trước sự việc xảy ra hoàn toàn thuộc về phía Trung Quốc, là bên đã hạ đặt giàn khoan ở vùng tranh chấp không có sự thương thảo trước với Việt Nam, là bên hành động trên thế kẻ mạnh, coi thường lợi ích và quyền lợi của láng giềng.
    Nhân tiện xin nói tôi kính trọng người Trung Quốc, bởi mẹ vợ tôi sinh ra trong gia đình công nhân đường sắt ở tỉnh Hắc Long Giang và sống ở đó đến năm 1935. Bà ấy kể nhiều về tính cần cù đặc biệt của người Trung Quốc và quan hệ kính trọng đối với những người Trung Quốc láng giềng.
    Còn người Việt Nam tôi hiểu họ không phải gián tiếp qua ai. Gần một năm tôi chung vai sát cánh với các chiến binh Việt Nam chống trả các cuộc oanh tạc của máy bay Mỹ. Cùng với sự nồng hậu, tôn trọng, lòng trắc ẩn, sẵn sàng giúp cả người chưa quen, người Việt Nam còn nổi bật với tinh thần gắn kết, quên mình, tương thân, quyết tâm và khát vọng chiến thắng .

   Sự thật lịch sử là người Việt Nam đã cắm cờ trên quần đảo Parasel vào năm 1816, và chỉ 70 năm sau Trung Quốc mới đưa ra đòi hỏi của mình về các đảo đó. Tôi biết tính cách người Việt, và tôi khẳng định rằng họ không bao giờ chấp nhận cái vai “những kẻ thua thiệt vô vọng” mà Trung Quốc đang ép họ nhận, sớm hay muộn họ sẽ giành được sự công bằng lịch sử trong chủ quyền quần đảo Parasel. Mọi nỗ lực giải quyết bằng vũ lực tranh cái lãnh thổ là ngõ cụt, kết thúc bằng vực thẳm “ Ông Колесник nói.

Chuyển ngữ: Trần Đăng Tuấn


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét