Thứ Hai, 19 tháng 12, 2022

70 NĂM “TÂY TIẾN” VÀ QUÃNG ĐỜI LẬN ĐẬN CỦA QUANG DŨNG

 


Kỷ niệm 35 năm nhà thơ Quang Dũng qua đời xin viết đôi dòng thay cho nén nhang thơm để tưởng nhớ nhà thơ mang trong mình dòng máu lãng du vào loại bậc nhất trong thi đàn đất Việt thế kỷ XX, người con của mảnh đất Đan Phượng, xứ Đoài quê tôi.
1. Dấu tích ngôi nhà xưa
Ngày ấy hồi đầu những năm 70 thế kỷ trước, cha tôi làm thương nghiệp trên phố huyện (thị trấn Phùng) thỉnh thoảng những kỳ nghỉ hè ông cho tôi sang Phùng đến khu làm việc kiêm chỗ ở. Căn phòng hai cha con ở đầu nhà căn nhà lớn (nền nhà rất cao, đi từ dưới sân lên nhà bằng ba bậc tam cấp) nằm bên cạnh con ngồi sát dãy nhà kế đường vào chợ Phùng, có cửa sổ mở hướng tây nhìn ra phía bãi dâu và tận tít xa là đỉnh núi Ba Vì nổi bật trên bầu trời xanh, mây trắng. Nhiều đêm tiếng còi vào ca ba từ nhà máy đường Tam Hiệp bên Quốc Oai vọng về làm thức giấc, tôi ngẩn ngơ hàng giờ bên khung cửa sổ ngắm nhìn ánh trăng bàng bạc trải dài nương dâu và lặng người nghe tiếng sáo diều ai chơi khuya đang réo rắt trong đêm.

Nghe cha kể lại thì khu nhà đó của cụ Tổng Phùng, vừa là nhà ở vừa là cửa hàng bán gạo muối. Sau khi cụ Tổng và gia đình di cư vào Nam năm 1954 thì chính quyền trưng thu và giao cho Cửa hàng nông sản thực phẩm Đan Phượng quản lý. Sau này lớn lên tìm hiểu qua các cụ cao niên ở đây mới biết là nhà thơ Quang Dũng, tác giả của những bài thơ nổi tiếng như Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ… chính là con cụ Tổng Phùng. Và đây chính căn buồng ngày xưa ông đã ở. Có lẽ từ căn buồng này, từ khuôn cửa sổ này đã khiến con tim, vần thơ của ông mang đậm hình ảnh núi Ba Vì, mây trắng xứ Đoài và tiếng sáo diều đêm khuya khoắt. Dấu tích nhà xưa giờ đây không còn nữa, có còn lại chăng chỉ mỗi cánh đồng xưa nhưng màu xanh bãi dâu được thay bằng màu xanh cánh đồng ngô bạt ngàn của Viện nghiên cứu ngô mà thôi.
2. Đôi dòng sơ lược
Nhà thơ Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Dậu, sau này vì thiếu tuổi đi học, phải mượn tên của người anh họ là Bùi Đình Diệm, ông sinh năm Tân Dậu 1921 tại làng Phượng Trì, tổng Đại Phùng, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Cụ thân sinh của ông tên là Bùi Đình Khuê trước làm Chánh tổng tổng Đại Phùng. Vì cụ thuộc lớp nho học nên dân trong vùng còn hay gọi là cụ Tú Khuê. Cụ đã mât từ năm 1942.
Trước Cách mạng tháng Tám 1945 với nhiệt huyết yêu nước của tuổi thanh niên mới lớn còn bồng bột, Quang Dũng tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng với mục đích để đánh Tây. Ông từng làm thư ký cho Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, một trong những chủ soái của Tự lực Văn Đoàn và là lãnh tụ của Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau đó được cử sang Trung Quốc hoạt động, trong thời gian ở Quảng Châu, ông đã theo học và tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố nổi tiếng của Trung Quốc. Tại trường này ông đã gặp và quen với Hoàng Sâm, người mà ba năm sau là Đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của QĐND Việt Nam) và được phong Thiếu tướng đợt đầu tiên năm 1948.
Năm 1945 Quang Dũng tốt nghiệp Ban Trung học của trường Thăng Long, nhận rõ bản chất cũng như không kỳ vọng gì ở Việt Nam Quốc dân Đảng, ông rời khỏi Đảng này và đi dạy học tư ở Sơn Tây kiếm sống. Khi Hoàng Sâm chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tiến về Sơn Tây để bảo vệ chính quyền mới thành lập ở khu vực Tây - Tây Bắc Hà Nội thì gặp lại Quang Dũng. Với sự vận động của Hoàng Sâm vào ngày 19 tháng 8 năm 1945, ông đã bỏ tất cả để gia nhập quân đội. Hoàng Sâm giới thiệu và tiến cử Quang Dũng với Võ Nguyên Giáp là người đồng chí, người đồng hương của mình. Vai trò đầu tiên của ông là phóng viên tiền phương của báo Chiến Đấu. Đến năm 1947, ông được gửi đi học ở trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khóa học, ông được điều về làm đại đội trưởng trong tiểu đoàn 212, thuộc trung đoàn 52 Tây Tiến. Ông đã tham dự chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua Tây Bắc. Chính trong chiến dịch Tây Tiến này, Quang Dũng và những người con yêu của đất nước, đủ thành phần, hầu hết là thanh niên học sinh người Hà Nội, đã trải qua những tháng ngày cực kỳ gian khổ và cũng tràn đầy tính cách hào hùng, bi tráng, quyết liệt. “Tây Tiến” ra đời trong hoàn cảnh đó.
3. Quãng đời lận đận, khốn khó
Dù ông tham gia nhiều trận, nhiều chiến dịch, tham gia đoàn quân Tây Tiến, thế mà ông vẫn cứ giữ mãi chức cao nhất là đại đội trưởng. Cho dù là một người có học thức, đa tài. Cho dù ông có tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố nhưng với xuất thân là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, là “con Chánh Tổng” nên ông luôn luôn bị nghi ngờ, không được tin dùng. Ông giải ngũ năm 1951.
Sau 1954, khi về Hà Nội, ai cũng vẫn được bố trí công tác, riêng Quang Dũng thì bị Tố Hữu ghen ghét về tài làm thơ, không cho làm bất cứ một công tác nào cả. Tố Hữu ra lệnh cho ông Nguyễn Đình Thi, Chủ tịch Hội Văn Nghệ VN, cho các đàn em viết báo, mở một chiến dịch phê phán thơ Quang Dũng. Họ liên tiếp viết nhiều bài phê bình thơ Quang Dũng. Những hình ảnh chân thực, bi hùng của đoàn quân Tây Tiến bị mổ xẻ, bị phê bình tơi bời. Bài thơ Tây Tiến ngày đó luôn được xem như một dẫn chứng để phê phán khuynh hướng tiểu tư sản trong thơ kháng chiến. Người ta bảo thơ ông lãng mạn, đồi trụy, tiểu tư sản, đang trong lúc toàn dân sôi sục đánh giặc Pháp thì lại làm thơ tơ tưởng về những cô gái Hà Nội dáng kiều thơm làm chao đảo và nhụt chí khí chiến đấu của toàn dân, toàn quân.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Trong Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm của một số văn nghệ sĩ và trí thức sống ở miền Bắc những năm 1955-1958, mặc dù ông không tham gia gì trong vụ này, nhưng ông vẫn bị gửi đi chỉnh huấn sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm. Bị cô lập vì cách hiểu, áp đặt quan điểm chính trị thô thiển của những con người thuộc chế độ độc Đảng không chấp nhận đa nguyên, Quang Dũng lặng lẽ “chìm xuồng” dành lui về ẩn thân trong nghèo nàn và bệnh tật.
Bài thơ “Tây tiến” nổi tiếng của ông trở thành nỗi oan gia không chỉ cho ông mà cho cả gia đình ông. Con gái nhà thơ, chị Bùi Phương Hạ làm cô giáo thì ra trường không được vào biên chế, phải chấp nhận rời bỏ thủ đô xung phong vào khu kinh tế mới Hà Nội tại Nam Ban (Lâm Đồng) xa xôi đến ba năm mới được vào biên chế. Thương con còn trẻ, vất vả nơi “rừng thiêng, nước độc”, ông cũng lặn lội vào để chăm sóc cho con. Còn con trai cả nhạc sĩ Bùi Quang Vĩnh cũng phải phiêu bạt lên công tác tại Thái Nguyên.
Cuộc đời của ông lận đận cho đến ngày qua đời trong đói khổ, bệnh tật tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội. Lúc ấy những đồng nghiệp của ông tại báo Văn Nghệ, Nhà xuất bản Văn học đồng lòng đề nghị Tổng Thư ký Hội nhà văn Việt Nam Nguyễn Đình Thi đưa ông vào bệnh viện Việt - Xô để đủ phương tiện chạy chữa nhưng “cấp trên” không đồng ý. Anh em đều biết là ông Tố Hữu không chấp thuận.
4. “Nỗi sợ” dai dẳng suốt cuộc đời.
Ở miền Bắc, từ sau 1954 thơ của ông bị phê bình trên báo chí vì mang hơi hướng “tiểu tư sản”, thiếu tính chiến đấu nên cấm lưu hành còn ở miền Nam thì được xuất bản, ngâm thơ, phổ nhạc, lưu truyền rộng rãi và được rất nhiều người yêu thích. Chất hào sảng, lãng mạn đậm nét chinh chiến phong trần trong “Tây Tiến” đã chiếm lĩnh bền sâu trong muôn tâm hồn đồng điệu, vượt qua thời gian, vượt qua giới tuyến, xóa nhòa mọi khoảng cách địa lý và thể chế do người đời phân định. Cho đến tận bây giờ, có lẽ đây là bài thơ duy nhất của người lính Cộng sản miền Bắc được ngay cả những người lính Cộng hòa miền Nam cũng yêu thích chép lại trong sổ tay.
Giáo sư Hoàng Như Mai kể lại: “Sau giải phóng, tôi vào Sài Gòn giảng bài, có đọc sách báo cũ. Gặp anh giữa phố Hà Nội, tôi bô bô: Này ông Quang Dũng, Sài Gòn họ ca tụng ông ghê lắm, có đến mấy đặc san về ông. Anh vội xua tay nói khẽ: “Thôi xin ông, ông đừng nói với ai nhé”.
Ngay cả bạn bè thân thiết hay bạn đọc ngưỡng mộ, yêu thơ ông muốn xin bút tích của ông làm kỷ niệm thì ông đều cười trừ và dứt khoát từ chối.
Năm cuối đời 1988, khi thấy bài thơ "Đôi mắt người Sơn Tây" của mình (được nhạc sỹ Phạm Đình Chương phổ nhạc) lần đầu tiên phát trên Paris by night, một video ca nhạc hải ngoại, cũng khiến nhà thơ lo lắng mất ăn mất ngủ mấy ngày liền.
Tất cả nguyên nhân “nỗi sợ” trên thì rất nhiều người đã biết nhưng có một nguyên nhân khác mà ông vẫn nén chặt trong lòng mà rất ít người biết ngoài ông và Tố Hữu. Tố Hữu được biết là do Cục 2 cung cấp thông tin cho lãnh đạo cấp chiến lược. Đó là ông có người em trai nắm trọng trách trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa ở bên kia “chiến tuyến”. Đây có lẽ cũng là nguyên nhân tới tận cuối đời mà ông vẫn bị “đì”.
5. Về người em trai ở bên kia “chiến tuyến”.
Năm 1946, ông Bùi Đình Đạm tốt nghiệp Tú tài toàn phần chương trình Pháp tại Hà Nội. Sau đó, ông được tuyển dụng làm công chức tại Hà Đông. Năm 1948, thi hành lệnh động viên, ông phải nhập ngũ vào Quân đội Liên hiệp Pháp và theo học khóa 1 Bảo Đại tại trường Võ bị Huế. Chức vụ cuối cùng trong Quân đội Liên hiệp Pháp là Tham mưu trưởng trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức với cấp bậc Thiếu tá.
Sau khi Việt Nam Cộng hòa ra đời (ngày 26/10/1955), ông chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Ông được thăng chức dần dần trong những năm sau đó, lên tới Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh năm 1962 và được thăng cấp bậc thiếu tướng (2 sao) năm 1970. Vào năm 1973, ông được cử giữ chức Tổng Giám đốc Tổng nha Nhân lực Bộ Quốc phòng và giữ chức này cho đến hết tháng 4/1975.
Sau khi ngày 30/4/1975, ông cùng gia đình di tản ra khỏi Việt Nam và định cư tại San Jose, California (Hoa Kỳ) và ở đó cho đến ngày qua đời (năm 2009).
Ông Đạm rất hiếu học, mặc dù với nhiều trọng trách trong Quân đội nhưng ông vẫn tiếp tục trau dồi thêm văn hóa và kiến thức. Ông từng đi du học ngành Quản Trị tại Pháp những năm 1950-1952. Ông từng tốt nghiệp cử nhân văn khoa Viện Ðại học Sài Gòn năm 1970. Năm 1983, ông tốt nghiệp Cao học Xã hội (MSW) tại Viện Đại học San Jose, California, Hoa Kỳ. Ông đã viết và xuất bản tác phẩm "Những áng văn hay" với bút danh Đan Phượng.
Bài thơ Tây Tiến cũng như thân phận tác giả đã nếm đủ nỗi thăng trầm thế sự, hơn 40 năm bị cho là “có vấn đề” người ta đã cố ý “nhấn chìm" nó đi, tưởng nó đã đi vào quên lãng nhưng Tây Tiến vẫn vượt qua sức cản phá của thời gian, đã trở thành bất tử, có chỗ đứng vĩnh viễn trong lòng người thưởng ngoạn. Bài thơ Tây Tiến hôm nay đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường rồi được khắc vào bia đá, bia tưởng niệm các liệt sỹ và ghi chiến tích Trung đoàn 52 Tây Tiến dựng ở Mai Châu (Hòa Bình). Tới năm 2001, ông mới được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Đây là phần thưởng tinh thần, là điều an ủi lớn nhất cho vong linh của nhà thơ xứ Đoài nơi chín suối.
BÀI THƠ TÂY TIẾN
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên.
(*) Nguồn: Phạm Văn Hải.
Ảnh - Nhà thơ Quang Dũng (1921 - 1988)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét