Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022

TRUNG QUỐC SỬ DỤNG “CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN GIẢ CẦY” ĐỂ ĐỒNG HÓA VIỆT NAM


 

Phạm Viết Đào
QUAN NIỆM VỀ ĐẢNG CS CỦA GIỚI HỌC THUẬT VIỆT NAM
Vừa qua, nhà báo Nhị Lê, Nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí CS đã bị cư dân mạng “ném đá “ tơi tả do công bố trên Báo Đầu tư bài có nhan đề: ”Đảng tự mình ngày càng xứng đáng trở thành dân tộc”; Nhị Lê đã phải nhận lấy những lời chỉ trích pha lẫn sự chế diễu nặng nề do quan niệm mà ông đưa ra bị người đọc hiểu là chiêu trò “đảng hóa dân tộc”…

Dư luận không chấp nhận khái niệm của Nhị Lê đưa ra bởi: "Thứ nhất, dân tộc đang bị đảng hóa. Thứ hai: người viết chả hiểu thế nào là dân tộc, thế nào là một đảng chính trị..." Có người thì đùa trên Facebook rằng "Trong đại gia đình các dân tộc VN, giờ Đảng tộc đông chỉ sau mỗi Kinh tộc". Bạn Nguyễn Hiệu thì viết trên Facebbook của BBC News Tiếng Việt: "Nói chung là không hiểu gì? Vậy người không đảng không phải dân tộc hay sao. Lại nữa, thế từ trước đến giờ Đảng là gì mà bây giờ mới ngày càng xứng đáng ??? Ôi đau đầu quá. Duclong Hoang nêu: "...Cho Đảng là dân tộc là việc không đúng cả về khoa học và trong thực tế. Chỉ có những người u mê do bị nhồi sọ mới có những ý kiến viển vông như thế." ( BBC)

Trước những chỉ trích của cư dân mạng, Nhị Lê đã lên tiếng thanh minh; ông cho rằng khái niệm đưa ra được dẫn trích từ “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”. Khi bàn về tính dân tộc của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”.

Sau sự thanh minh này, những độc giả thông thạo tiếng Anh và tiếng Đức đã tìm đến văn bản gốc; Họ đã phát hiện đoạn dịch trên trong Tuyên ngôn Đảng CS sang tiếng Việt là không sát đúng với văn bản của Marx viết. Theo văn bản tiếng Anh độc giả Nguyên Tổng cho rằng đoạn này phải dịch:“Vì giai cấp vô sản trước hết phải có được uy quyền về chính trị (chứ không phải “giành được chính quyền”), phải tự vươn lên thành giai cấp dẫn dắt dân tộc, phải tự mình mang tầm vóc dân tộc”…

Các ý kiến phản đối ý kiến của Nhị Lê cho rằng: Cần hiểu Tuyên ngôn Đảng CS do Marx viết 1888 về vai trò của Đảng Cộng sản là "tự vươn lên thành lực lượng chủ đạo trong dân tộc", chứ không bao giờ lại "thành dân tộc"…
Qua vụ Nhị Lê, độc giả thêm một lần hồ nghi: Liệu Việt Nam đang xây dựng một nhà nước, thể chế theo học thuyết Marx- Lenin nguyên gốc hay đi theo đường lối của người phiên dịch?
Các khái niệm của chủ nghĩa Marx- Lê nin bị nhiều người đặt vấn đề phải được xem xét không chỉ riêng Tuyên ngôn Đảng CS
“COMUNISM " DỊCH " CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN" CÓ CHÍNH XÁC?
CHỮ " CỘNG SẢN (共产) TỪ ĐÂU RA ?
Tiếng Anh “Communism”- chủ nghĩa cộng sản, hay Communist – người cộng sản mà Việt Nam và Trung Quốc gọi, có bắt nguồn từ gốc tiếng Latin Communis nghĩa là common; Thuật ngữ này có ý nghĩa là chung với tinh thần cộng đồng – communitas. Đó cũng là gốc của từ community – cộng đồng, nơi mọi người sinh sống, làm ăn đều bình đẳng với nhau, chia sẻ tài vật, vì sự phát triển chung. Communist là những người sống trong cộng đồng.

Các Mác đặt cho học thuyết của ông bằng tiếng Đức là Kommunismus (tương đương tiếng Pháp là communisme, tiếng Anh là communism, tiếng Nga là коммунизм). Nếu dịch đúng ra tiếng Việt thì tên học thuyết phải là “Chủ nghĩa cộng đồng”; Vì thế, tên đảng dịch đúng phải là “Đảng cộng đồng Việt Nam”.

Người Trung Quốc đầu thế kỷ 20 cố ý dịch đại khái Kommunismus thành “Chủ nghĩa cộng sản”. Nguyên do nhóm các giáo sư đại học Lý Đại Chiêu, Trần Độc Tú, sau đó là cử nhân sư phạm Mao Trạch Đông và những người thành lập Đảng cộng sản TQ năm 1921 đã dịch ẩu và đặt ra như thế.[Gongshan (共产) hay Cộng Sản do nhóm Trần Độc Tú và Lý Đại Chiêu dịch từ Kommunismus của Karl Marx vào thập niên 1910.

Thực ra, Marx chỉ nói đến chế độ công hữu thời xã hội nguyên thủy [primordial society] mà chưa ai chứng nghiệm—tương tự như Fu Xi [Phục Hi], Bao Xi [Bào Hi] [2852 TTL] của Ban Gu [Ban Cố], trong Han shu [Hán thư], dẫn lại trong I Ching [Chu Dịch]. Hoàn toàn không sát nghĩa với Comunism…
Vì sao không dùng “cộng đồng” mà dùng “cộng sản”?

Với trình độ học vấn đại học, ba ông Lý Đại Chiêu, Trần Độc Tú, Mao Trạch Đông không thể hiểu lầm chữ nghĩa.Họ cố ý thay “cộng đồng” (共同) bằng “cộng sản” (共产) hẳn là có một ý tứ nhất định.
Thực ra, trong Hán ngữ, tương đương với “cộng đồng” cũng có chữ “đại đồng” (大同) xuất hiện từ thời Khổng Tử. Trong Kinh Lễ, Khổng Tử từng ước mơ xây dựng nên một xã hội lý tưởng gọi là thế giới đại đồng. “Đại đồng” gần nghĩa như “cộng đồng”. Nhưng “cộng đồng” và “đại đồng” vẫn là trừu tượng đối với đại đa số dân chúng Trung Hoa vô sản thất học, phần đông là nông dân. Chữ “cộng sản” tiếng Hán có nghĩa “cùng sản xuất, chung sở hữu tài sản, cùng sinh đẻ”- nghe thô kệch, vụn vặt, phiến diện, ngô nghê nhưng được cái cụ thể sinh động, dễ hiểu và gần với lối sống của nông dân.
Thực ra “cộng sản” chỉ là một phần trong nội hàm của khái niệm “cộng đồng”. Chả lẽ lãnh tụ Đảng TQ không rành chữ Hán và chữ Đức?!

Không phải thế, họ dịch ra “cộng sản” một cách thực dụng, bởi nghĩ rằng khái niệm “cộng sản” với nội hàm cụ thể đơn giản sẽ khiến cho dân đen nhất là nông dân dễ hiểu. Đặc biệt người dân nghèo, thợ thuyền chẳng có tài sản gì đáng kể, nay vô Đảng để đi đấu tranh, giành giật hết tài sản của giai cấp địa chủ và tư sản làm của chung thì thích lắm, mê lắm. Mác cũng từng nói “giai cấp vô sản đấu tranh chẳng có gì để mất, nếu có mất thì chỉ mất đi xiềng xích dây trói mà thôi”.

Tất nhiên, cái tên đảng cộng sản cụ thể hấp dẫn như vậy sẽ trở thành khẩu hiệu, lá bài, bùa mê dễ khêu gợi, tập hợp dân chúng cần lao; Hô hào, lôi kép họ hăng hái đi theo đảng cộng sản. Lãnh tụ CSTQ đã bất chấp chữ “cộng sản” chỉ là một phần nhỏ, phần thô không trọn nghĩa khái niệm “cộng đồng” của Mác, nhưng họ cứ phiên dịch đại đi. Như vậy, Đảng cộng sản TQ từ khi ra đời đã mang theo chứng chỉ khai sinh giả mạo, gian manh, lắt léo!

Ông Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu “cộng sản” Việt Nam họp từ ngày 6/1/1930 đến ngày 8/2/1930 tại Hương Cảng để bàn bạc thống nhất ba tổ chức cộng sản tại Đông Dương, hợp thành Đảng cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vẫn dùng nguyên chữ “cộng sản” đặt tên đảng, đặt theo đàn anh TQ, mặc dù ông Nguyễn khá giỏi chữ Tây và cả chữ Hán. Ông Nguyễn thừa biết là dịch sai, nhưng có hề gì, miễn là cùng tên chứng tỏ cùng phe cánh với Đảng cộng sản Trung Quốc là được (!). Ông Nguyễn Ái Quốc vẫn sử dụng thuật ngữ “Gongshan”, phiên âm ra tiếng Việt là “Cộng sản” để muốn bày tỏ sự trung thành, cùng phe cánh với các nhà cách mạng Trung Quốc. Thái độ chính trị này của Nguyễn Ái Quốc nhằm mục đích: Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của Gongshan Trung Quốc sau này trong sự nghiệp đánh đuổi thực dân Pháp…

Đã có thời, ông Hồ Chí Minh sửa tên đảng là “Đảng lao động Việt Nam”, như thế là khôn ngoan, già rơ về chính trị khi ông đã có thực lực trong tay, nên ông muốn tách dần Việt Nam ra khỏi “ Gongshan” Trung Quốc. “Đảng của người lao động Việt Nam”, lao động chân tay và lao động trí óc, bất kể anh là “giai cấp công nhân” hay trí thức.

Như vậy, thể chế, hệ điểu hành quản trị hiện nay theo mô hình XHCN của Việt Nam thực chất là một thứ "hàng Tàu" xách tay. Khi là loại hàng hóa không thuộc diện nhập chính ngạch thì người sử dụng vừa phải trả giá bản quyển cao, chịu nhiều cạm bẫy rủi ro. Do không được nhập từ chính hãng nên không được sự bảo hành và nhận các chính sách hậu mại như mặt hàng chính hiệu, chính phẩm đặt mua bằng mở L/C để nhập xuất …

Nếu coi Kommunismus đến tay ông Hồ Chí Minh thành F 3, Lê Duẩn F 4, Trường Chinh F 5, Nguyễn Văn Linh F 6, Đỗ Mười F 7, Nông Đức Mạnh, F 8, Nguyễn Phú Trọng thành F 9 và đến Thuấn Covid-19 thì thành F mười mấy rồi…

Trong lai tạo giống sinh, thực vật, lai tạo đến F 3 đã coi vào hàng thoái hóa, lại giống rồi. Đằng này Cộng Sản Việt Nam đã lên tới F 9, F 10 rồi thì làm sao còn có khả năng phát triển.
Tại sao không là kẻ chung đường?

Ngay cả cái gốc của hệ điều hành KOMMUNISMUS ở các quốc gia sản sinh ra nó cũng đã không còn sức sống; Vậy thì cái thứ con lai, con rơi, con ghép tạng làm sao còn sức sống, sức phát triển?
Chủ nghĩa Marx ( Kommunismus ) được đám Lý Đại Chiêu, Trần Độc Tú, Mao Trạch Đông du nhập vào Trung Quốc đâu có “nguyên đai nguyên kiện”; nó bị biến thể, nó được cắt xén chỉ để sử dụng một góc phù hợp với Trung Quốc, nơi từ cổ chỉ kim đã bị ám bởi chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán. Đó là thứ chủ nghĩa hợp tạng, bắt rễ, ăn sâu vào máu thịt, tiềm thức của giới cai trị Trung Hoa. Trung Hoa đó là dân tộc hàng ngàn năm nay chỉ ôm mộng, nuôi chí bành trướng, ôm vơ của cái tài sản của nước khác cộng về cho mình, đó là dân tộc Trung Hoa với phương châm xử thế từng đúc kết thành định đề: Vinh thân- Tề gia-Trị quốc-Bình thiên hạ...

Xuất phát gốc của người Hoa Hạ chỉ nằm xung quang khu vực sông Hoàng Hà; còn ngày nay biên giới lãnh thổ của Trung Quốc đã vươn ra tận đâu? Điều này cho thấy từ xa xưa người Trung Hoa đã thực thi chủ nghĩa cộng sản, cộng đất đai, tài sản vào của mình thành công tới mức nào…
Chừng nào Việt Nam còn vay mượn, sao chép, còn nấp chui trong cái lồng, rọ “ GONGSHAN-Cộng Sản Tàu”- chừng đó còn bị kìm kẹp, còn bị rút ruột, còn bị cái “vòng kim cô“ này cương tỏa. Cái hệ điều hành quản trị “xách tay” từ Trung Quốc nó làm cho chu u mê, nó siết cho không ngóc đầu lên được.
TỪ "CHIẾC VÁY" TRÙM ĐẦU NHÃN MÁC TÀU “GONGSHAN” BIẾN THÀNH MỘT THỨ “GÔNG CÙM” " VÒNG KIM CÔ" ÁC NGHIỆT
Trước thái độ của Trung Quốc, dẫu không muốn nhưng buộc lòng Việt Nam phải xem xét, cài đặt lại toàn bộ các mối quan hệ chính trị-kinh tế-văn hóa-an ninh-quốc phòng với Trung Quốc…
Về quan hệ chính trị: Đây là lúc mà Đảng CS Việt Nam cần tính đến phương án đổi tên Đảng CS để cho thế giới thấy quyết tâm của Việt Nam muốn tách triệt để khỏi GONGSHAN Trung Quốc; Từ mặt Trung Quốc về chính trị. Việt Nam không đồng chí, anh em gì hết với Trung Quốc GONGSHAN.
Ông Hồ Chí Minh là người sớm giác ngộ về sự oan nghiệt của chiếc VÁY TÀU GONGSHAN này nên năm 1951, tại Đại hội Đảng CS Đông Dương lần thứ 2 ông cho đổi tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam…

Mô hình GONGSHAN của Trung Quốc là một dạng “KOMMUNISMUS” “nửa dơi nửa chuột”. Sau dịch COVID 19 thế giới thật sự kinh hãi về những gì đang xảy ra với gần 100 nước trên thế giới. Rất nhiều nhà khoa học, nhiều quốc gia cho rằng tất cả những di hại của dịch bệnh do bàn tay của GONGSHAN CHINA? Nhiều tổ chức tại nhiều quốc gia trên thế giới đanh tính việc đưa GONGSHAN Tàu ra tòa.

Muốn giữ được độc lập dân tộc, muốn bảo vệ được Biển Đông, giữ được quan hệ đối ngoại thì không chỉ nghĩa đến tấm quần manh áo, ( danh xưng, danh hiệu, kinh doanh gọi là thương hiệu) mà phải độc lập, tự đứng vững được trên đôi chân kinh tế của mình; Trong thời đại ngày nay, ngay cả nền kinh tế số một thế giới là Mỹ, qua covid 19 cũng cho thấy lao đao khi bị cách ly ra khỏi thị trường thế giới…

Mặt khác do quan hệ làm ăn với Trung Quốc, quá tin vào Trung Quốc do 2 nước đều dưới sự lãnh đạo của GONGSAN; Thật tại hại thấy cái gì vương vướng về pháp lý thì giơ cái bảo bối: Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đồng thuận; Không được làm gì trái với thỏa thuận của cấp cao hai nước? Mà thỏa thuận cấp cao giữa hai GONGSHAN cấp cao là gì thì không ai biết?! Tại Việt Nam nhiều công trình, dự án đã thất bại để lại những gánh nặng quốc gia. Hơn một chục dự án đầu tư tính ra suýt soát gần 50 tỷ USD có nguy cơ phá sản, nguy cơ phái hủy dự án hoặc kinh niên thua lỗ như Thép Thái Nguyên, Đạm Ninh Bình, Nhà máy đóng tàu Đình Vũ, Bauxite Tây Nguyên …Cộng với nhửng tiêu cực phát sinh do “ lỗi hệ thống”, lỗi cơ chế cho nên thay đổi tên Đảng cũng là cách khôi phục, gầy dựng lòng tin…

Cái danh xưng, nói theo ngôn ngữ thị trường “THƯƠNG HIỆU GONGSHAN CHINA” đang bị dị ứng, phản cảm trong con mắt của cộng đồng thế giới. Không phải ngẫu nhiên mà sau ngày 2/9/1945, việc đầu tiên của ông Hồ Chí Minh là cho giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương; Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh được Chính phủ Hồ Chí Minh giao cho phụ trách Viện Nghiên cứu Marx-Lenin. Chính ông Hồ Chí Minh sớm nhận ra: Muốn tập hợp được lực lượng, đoàn kết được toàn dân để chống lại thù trong giặc ngoài thì phải loại Cộng sản ra khỏi chính quyền non trẻ. Đến năm 1951, khi quyết định sử dụng lại Đảng, ông Hồ Chí Minh đã cho Đảng khai sinh một cái tên mới: Đảng Lao động Việt Nam, đây là quyết sách chuẩn bị cho việc tập hợp lực lượng, dồn sức vào bước quyết định của cuộc kháng chiến và tách dần sự ảnh hưởng của Trung Cộng…

Vào thời điểm hiện tại, muốn bảo vệ được độc lập dân tộc, bảo vệ được Biển Đông thì phải làm theo cách mà ông Hồ Chí Minh từng làm: Lấy tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam của Đại hội 2. Còn nếu tiếp tục giữ tên Đảng Cộng sản, là cái tên, cái “ thương hiệu” dịch từ GONGSHAN thì Việt Nam sẽ không tập hợp được nhân dân quyết sống mái với quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ Biển Đông…

Giữ nguyên Đảng Cộng sản khi người dân Việt Nam đã hiểu được “CỘNG SẢN” Việt Nam là một phiên bản từ GONGSHAN tiếng Tàu; Nếu bị hiểu như thế thì người dân cho rằng: Việt Nam mãi mãi vẫn chỉ là một đảng bộ của Tàu…

Nhân cơ hội Trung Quốc công khai giở mặt, gây hấn trước là dịp các nhà lãnh đạo phải học lại cách làm của ông Hồ Chí Minh: Đổi tên Đảng để tập hợp toàn dân tìm cách “thoát Trung”, để bảo vệ Biển Đông…Chỉ khi đổi tên Đảng, không vướng víu nợ nần, không dây mơ rễ má gì với GONGSHAN CHINA thì người dân mới tin: Việt Nam là một quốc gia độc lập, cóc chủ quyền, không đi đêm, trở thành “con nghiện” của GONGSHAN CHINA…

Việt Nam không thể xây tường ngăn biên giới với Trung Quốc như Mỹ với Mexico. Ngoài ra, Việt Nam chưa có gì đảm bảo giữ toàn vẹn chủ quyền các vùng đặc quyền kinh tế Biển Đông, nơi trầm tích nhiều tài nguyên thiên nhiên cũng như cửa ngõ giao thương lớn bậc nhất của thế giới. Việc giao lưu trao đổi hàng hóa hai nước là nhu cầu tự thân của hai nền kinh tế, vì lợi ích của người tiêu dùng của hai quốc gia. Hiện nay, kinh tế Việt Nam nếu nhìn vào số liệu cán cân xuất nhập khẩu giữa hai nước cho thấy: Việt Nam thường xuyên chịu thực trạng nhập siêu với thị trường Trung Quốc. Việt Nam phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu sang Trung Quốc các mặt hàng nông, hải sản; Phụ thuộc cả vào số lượng nhập khẩu của thị trường này và cả về giá cả. Còn nhập khẩu thì Việt Nam lệ thuộc vào các nguyên vật liệu công nghiệp, thủ công mỹ nghệ…

Bản thân thị trường Trung Quốc là thị trường chứa đựng lực hút về nhu cầu của gần 1,5 tỷ dân; Thị trường này thật sự giống như một "cục nam châm" cực lớn thu hút không chỉ Việt Nam. Nhiều quốc gia mạnh hơn Việt Nam mà còn phải chịu lệ thuộc vào Trung Quốc, ve vãn bắt tay với Trung Quốc.
Vì sao Trung Quốc phải dùng “Chủ nghĩa Cộng sản” để đồng hóa Việt Nam

Xét về diện tích, Trung Quốc lớn gấp 30 lần so với Việt Nam; Xét về dân số thì lớn gấp 15 lần so với Việt Nam; Xét về kinh tế thì tổng sản phẩm của Trung Quốc lớn gấp 54 lần so với Việt Nam…Nếu xem xét về mặt con số thì ai cũng thấy độ chênh khủng khiếp giữa Trung Quốc và Việt Nam nên đều có chung ý nghĩ: Chỉ có Việt Nam mới sợ Trung Quốc; còn người Trung Quốc làm gì phải sợ Việt Nam ?

Đúng là người dân Trung Quốc không việc gì phải sợ Việt Nam; Đa phần người Trung Quốc còn không để ý quan tâm tới sự hiện diện của Việt Nam, nước láng giềng phía nam của họ. Những người Trung Quốc e ngại Việt Nam là giới lãnh đạo; giới “tinh quái”; các học giả cao cấp của Trung Quốc…Tại sao lại như vậy? Chúng ta hãy đi tìm hiểu cội rễ sâu xa của vấn đề này…

Xét lịch sử hơn 2200 năm qua khi bắt đầu nhất thống trung nguyên và bành trướng ra xung quanh của Trung Hoa đế quốc, có hai hiện tượng điển hình đã xảy ra đều theo chiều từ bắc xuống nam: Hiện tượng thứ nhất là dòng di cư của người Hán đối với các dân tộc phương nam, điển hình là chủng tộc Bách Việt ở nam sông Trường Giang; Dòng thứ hai là dòng di cư xâm lược của các dân tộc du mục phương bắc đối với chính người Hán…

Sử sách đã ghi lại qua nhiều thời kỳ, các bộ tộc du mục phương bắc như Mông Cổ, Mãn Châu dù dân số nhỏ bé hơn người Hán rất nhiều nhưng vẫn có thể vượt Vạn Lý Trường Thành mà chiếm được toàn đất nước Trung Hoa bao la; Nô dịch được đất nước Trung Hoa với vài trăm triệu người Hán.
Ở hiện tượng thứ nhất: Người Hán đã “ Hán hóa” thành công với đa phần các dân tộc thuộc chùm Bách Việt, trừ người Việt Nam; Còn ở hiện tượng thứ hai: Đa phần các dân tộc du mục sau đó lại bị người Hán đồng hóa trở lại. Tại sao lại có hiện tượng kỳ lạ như vậy xảy ra? Điều này có thể lý giải được…

Sở dĩ người du mục bị người Hán đồng hóa vì văn hóa người Hán cao hơn các so với văn hóa của người du mục. Do vậy từ vai trò của kẻ bị xâm lược, kẻ làm chủ cõi Trung Hoa thì sau đó chính họ lại bị người Hoa đồng hóa ngược; điển hình như người Mãn Châu.

Còn người Việt dù trải qua hơn 2000 năm bị người Hán hết lấn này tới lần khác xâm lược, o ép; Họ tìm đủ mọi cách đồng hóa mà vẫn không thành công. Điều này chỉ có thể giải thích: Văn hóa của người Việt thuở xưa đã vượt trội hơn người Hán. Vì vậy, mặc dù người Hán đã chiếm hữu, sau đó xuyên tạc, mạo danh văn hóa của người Bách Việt; Người Hán đã chiếm được phần lớn lãnh thổ của người Bách Việt, không một vua chúa nào của Trung Quốc từ bỏ tham vọng thôn tính Việt Nam. Ngay cả bây giờ dưới thời kỳ lãnh đạo mới của Trung Quốc cũng vậy…Trong con mắt của họ, Việt Nam là cái gai cần phải nhổ; một mảnh đất bắt buộc phải chiếm đóng…Một phần do họ tham vọng bành trướng đã ngấm vào máu thành học thuyết, chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán. Phần khác do bắt nguồn là nỗi sợ sâu thẳm trong tâm khảm của tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc. Kẻ ăn cướp, ăn cắp thì luôn muốn giết người, bịt đầu mối để toàn quyền sở hữu đồ ăn cắp; Quan hệ Việt –Trung ngàn năm này bản chất nó là như vậy..

Người dân thường Trung Quốc vô tư, không hiểu lịch sử thì họ không nghĩ nhiều, nhưng giới lãnh đạo tinh quái của Trung Quốc thì chắc chắn họ hiểu. Điển hình câu chuyện về nguồn gốc Bách Việt mà Thủ tướng Nhật có lần nhắc đến chuyện này đã khiến Tôn Trung Sơn phải xấu hổ…
Khi nhà Minh xâm lược thành công Đại Việt, Hoàng đế nhà Minh ngày đêm thúc quân lính phải nhanh chóng tiêu hủy các di chỉ lịch sử văn hóa của người Việt càng nhanh càng tốt. Điều này xuất phát từ nỗi sợ hãi đã ngấm trong tiềm thức của tầng lớp thống trị Trung Quốc. Nền văn minh Trung Quốc chứa một phần nền tảng rất lớn của văn minh lúa nước Bách Việt; do lo sợ sự lấn lướt của văn minh của người quân tử phương nam, nên họ tìm cách xuyên tạc: Người Việt là do do người Trung Quốc đồng hóa mà thành; Họ xuyên tạc văn hóa Việt là do người Trung Quốc đặt ra. Tác phẩm Kinh Dịch hiện này giới học giả thế giới cho rằng nó là kết tinh văn minh của văn hóa Bách Việt; Nền văn minh lúa nước ở phía nam sông Trường Giang. Có ý kiến còn suy đoán chư Dịch xuất phát từ Diệc, một loài chim gắn với đồng ruộng…

Nhưng những thành tựu của văn hóa về gien di truyền, những thành tựu về khảo cổ học mà tấm màn vĩ đại mà người Hán che đậy về văn minh Bách Việt, chủng tộc Việt ngày càng lộ rõ. Những kết quả về nghiên cứu gien cho thấy người Việt vẫn là người Việt; chúng ta không có gien của người Hán vốn có gốc du mục…Nhìn mắt thường hình dáng gương mặt người Việt không hề giống người Hán thông qua hình dáng của đạo quân đất nung trong lăng mộ của Tần Thủy Hoàng..
Những phát lộ về khảo cổ đã cho thấy: Chủng tộc Việt đã tạo ra nền văn minh văn hóa vĩ đại ở lưu vực sông Trường Giang cách đây hơn 2000 năm. Nền văn minh lúa nước đó chắc chắn không thể đến từ tổ tiên người Hán Trung Quốc, vốn dĩ lúc đó cũng chỉ là những bộ tộc du mục tại cao nguyên Thanh Tạng.

Giới tinh quái Trung Quốc hiểu rằng: Dùng kinh tế để đánh ư? Dân Việt nghèo đói trong chốc lát, giai đoạn nhưng rồi họ với sự ưu đãi của thiên nhiên, với một dân tộc cần cù giỏi chịu đựng và sáng tạo, nhất định người Việt Nam lại sẽ vươn lên thành nền kinh tế hùng mạnh; Dùng quân sự để đánh người Việt ư? Giới tinh quái Trung Quốc lo ngại rằng: Văn minh của họ là thứ văn minh chiếm đoạt, lắp ghép vay mượn của dân tộc khác; mà phần lớn là văn minh Bách Việt mà người Việt là kẻ thừa kế chính gốc, chính thống..

Do đó muốn đồng hóa dân tộc Việt mà sử dụng lại những con bài cũ, những khí giới cũ như cha ông họ đã từng sử dụng hơn hai ngàn năm qua là không thể thành công. Con bài hiệu quả nhất, đễ lừa bịp nhất có vẻ khách quan đó là học thuyế Marx-Le nin; thứ chủ thuyết được họ cải biến thành “chủ nghĩa cộng sản” là chủ thuyết tốt nhất để đồng hóa dân tộc Việt Nam êm dịu nhất;
Chủ nghĩa Cộng sản mạo danh chủ nghĩa Comunism, được giải thích, giải nghĩa theo kiểu Tàu, thực chất vẫn là “bình Tây rượu CỘNG SẢN Tàu”; Họ mượn một chủ nghĩa của Tây để hợp thức hình thức “đụng lợn” của dân quê Việt Nam trong các dịp lễ tết: cộng lại để chia đều…
Chủ nghĩa Cộng sản được vận dụng theo kiểu đó nên được nông dân ủng hộ vì họ quen dùng? Như vậy, chủ nghĩa cộng sản mà Trung Quốc vận dụng giải bài toán thoát nghèo đói theo phương thức đụng lợn cổ xưa, khi chưa phát triển…

Nếu các Gongshan Trung Quốc dùng Khổng Tử, Tam Dân của Tôn tử, Hàn Phi tử thì người Việt vẫn nghi ngờ là xâm lược, là bị Tàu lừa. Do đó Chủ nghĩa Gongshan đã được khoác comple cho bộ cánh Tàu; Gongshan Tàu về bản chất vẫn là thứ chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán…
Chỉ có dùng Gongshan kiểu Tàu mới lừa nhốt được Việt Nam vào chung cái lò, bẫy Đại Hán; Sử dụng bạo lực, sức mạnh của số đông; nắm lầy những “con vịt” đầu đàn là có thể lôi kéo, dẫn dắt cả đàn đi theo.

Ai đã từng chăn nuôi vịt đàn, để lùa một đàn vịt di dời từ cánh đồng này sang cánh đổng kia; Người chăn vịt cho một người xách cổ con vịt đầu đàn đi trước, còn người đi sau cầm một cái sào dài, đầu sào buộc một nắm bùi nhùi như rơm rạ hay lá chuốc khô làm công cụ để lùa, dắt, trấn áp, đưa đường cho đàn vịt đi đúng hướng chỉ đạo của ông chủ…“Trung Quốc Gongshan” đã và đang sử dụng “giây chuyền công nghệ mang danh Marx-Lê” để đồng hóa Việt Nam theo cách thức của các ông chủ chăn vịt …
P.V.Đ
Rút từ trong bộ: VỊ XUYÊN & THẾ SỰ VIỆT-TRUNG

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét