Nguyễn Tuân có lần nói: “Tôi thích hai chữ thi nhân, chứ không thích hai chữ thi sĩ. Thi sĩ chỉ là anh có nghề làm thơ. Còn thi nhân là người thơ. Cái đẹp, cái sang, chất thơ ở ngay trong bản chất của nhân cách”.
Nguyên Hồng thì lại nói với tôi thế này: “Thầy giáo cứ để ý mà xem, mấy thằng văn xuôi chúng tôi đều dại dột cả, cho nên cứ vấp luôn. Còn mấy anh làm thơ thì anh nào cũng khôn ngoan cả”.
Ý kiến Nguyên Hồng thoạt nghe tưởng như cố tình nói ngược. Thế mà ngẫm ra thấy cũng đúng. Nhưng có lẽ chỉ đúng một nửa. Có những thi sĩ quả là khôn ngoan quá quắt lắm. Nhưng cũng có những người lại chân thật như là trẻ thơ. Chân thật đến mức có thể gọi là dại dột. Vì họ là thi nhân, là người thơ. Quang Dũng là một người như thế.
Tôi nhớ khoảng mười sáu, mười bảy năm về trước có lần tôi được tiếp xúc với Quang Dũng. Hôm ấy, vì có công việc gấp, tôi ra Nhà xuất bản Văn học (49 Trần Hưng Đạo) rất sớm. Đang đứng ở sân thì thấy Đỗ Chu xách phích nước đi qua. Ông bảo tôi sang uống nước. Hồi ấy Đỗ Chu ở nhờ một căn phòng nhỏ của trụ sở Hội Văn nghệ (51 Trần Hưng Đạo). Tôi dắt cái xe đạp tàng theo ông sang uống nước. Và gặp Quang Dũng ở đó.
Lúc bấy giờ Quang Dũng đang làm cho Nhà xuất bản Văn học. Còn một năm nữa thì đến tuổi về hưu, nhưng không rõ vì lý do gì, ông muốn xin về ngay năm đó. Hồi ấy, xin về hưu sớm phải có giấy xác nhận sức khỏe của y tế, gọi là giấy giám định y khoa gì đó. Quang Dũng có ngờ đâu công việc tưởng đơn giản mà hóa ra lại khó khăn phiền phức quá thế.
Căn phòng của Đỗ Chu vẻn vẹn chỉ độ bảy, tám mét vuông. Đỗ Chu và tôi ngồi một phía. Quang Dũng ngồi đối diện trên một cái ghế thấp hơn. Ông người cao to. Tóc đã bạc màu. Trong ba chúng tôi, Đỗ Chu kém tuổi nhất.
Nhưng Đỗ Chu đã dõng dạc nói với Quang Dũng thế này:
- Anh Dũng ạ! Bây giờ không phải là cái thời lãng mạn nhá! Anh xin về hưu làm gì! Một năm nữa đến tuổi thì người ta khắc cho về. Rồi phải làm sao cho người ta tăng thêm một bậc lương nữa rồi hãy về. Bây giờ không phải cái thời lãng mạn. Để rồi tôi nói với anh Nguyễn Đình Thi lấy sang bên Hội, rồi tăng thêm cho một bậc lương nữa… Nhưng bây giờ đã trót nộp đơn xin về rồi mà lại rút đơn ra thì cũng nhảm. Cứ để đơn đấy, nhưng giấy tờ y tế không chạy được thì cũng thôi chứ gì.
Quang Dũng ngồi lắng nghe chăm chú lắm. Cứ mỗi lần Đỗ Chu nói xong một câu, ông lại thật thà:
- Vâng, anh nói đúng.
Quang Dũng bỗng nhớ ra đã bỏ quên một giấy tờ gì đó ở nhà cần phải về lấy ngay. Ông rụt rè nói với tôi:
- Anh Mạnh ạ! Anh làm ơn cho tôi mượn cái xe đạp của anh một lát. Tôi chạy về nhà rồi trở lại ngay, chỉ mười lăm phút thôi.
Tôi đồng ý.
Quang Dũng bảo tôi đưa cho ông cái chìa khóa xe đạp rồi đi. Mười phút sau ông đã quay lại. Ông dựng cái xe đạp ở chỗ cũ, ngay trước cửa phòng của Đỗ Chu. Ông bảo tôi:
- Có nên khóa xe đạp lại không anh?
Tôi bảo:
- Không cần anh ạ.
Bởi vì cái phòng của Đỗ Chu thì nhỏ. Có độc một cửa ra vào thì cái xe đạp dựng ngay đó. Cả ba người ngồi nói chuyện trông ra cửa, ăn cắp có tài thành cũng không sao lấy được.
Quang Dũng trả lại tôi cái chìa khóa, nhưng xem ra vẫn chưa yên tâm. Một lúc sau anh lại nói nhỏ với tôi:
- Hay là ta cứ khóa cái xe lại anh ạ!
Ôi Quang Dũng! Người tráng sĩ, đấng trượng phu, từng hiên ngang “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới!”. Tôi bỗng thương ông vô cùng và quý ông vô cùng. Cái tính cẩn thận đến lẩm cẩm của ông kia có phải đã hình thành như một sự trả giá cho những thua thiệt của một đời người vì quá thừa chất lãng mạn và lòng chân thật chăng?
Trong thời gian Quang Dũng vắng mặt, Đỗ Chu đã cho tôi biết một ít tiểu sử của tác giả Tây Tiến và Đôi mắt người Sơn Tây – một quãng tiểu sử đầy chất lãng mạn và sự ngây thơ chân thật:
- Ông này là tổ sư lãng mạn đấy. Hồi trước Cách mạng tháng Tám, rất mê chủ nghĩa xê dịch của Nguyễn Tuân. Ông ấy rủ một tay họa sĩ, tậu một cái … xe trâu để vào Nam. Trên đường đi, họ tính chuyện kiếm ăn độ nhật bằng cách ghé vào những nơi phố xá, chợ búa vẽ tranh bán – Quang Dũng cũng là một tay vẽ giỏi lắm – Nhưng đi đến một chặng đường nào đó, trâu bị ốm không kéo xe được nữa. Phải bán trâu, bán xe đi. Anh bạn họa sĩ nản chí, bỏ về. Quang Dũng một mình nhảy tàu đi tiếp. Hình như vào tận Sài Gòn, sang tận Campuchia. Nhưng cuối cùng lại quay về Bắc.
Rồi lại mê cách mạng, thích làm cách mạng. Nhưng không biết cách mạng ở đâu. Nghe đồn cách mạng ở bên Tàu, bèn lần mò sang. Không may gặp phải đám Quốc dân đảng, đóng trụ sở, cắm cờ phấp phới, có người bồng súng gác hẳn hoi. Thế là đi theo. Ở với họ một thời gian, thấy sinh hoạt chẳng có vẻ cách mạng gì cả, lại quay trở về nước. Sau đó theo bộ đội ta đánh giặc. Chiến đấu cũng dũng cảm lắm. Người ta bèn tính kết nạp vào Đảng. Ông ấy khai lý lịch là đã ăn ở một thời gian với Quốc dân đảng. Thế là hỏng và cái lý lịch tai hại cứ theo đuổi ông ấy mãi về sau này…
Vào năm 1981, tôi lại có dịp đến thăm Quang Dũng, hồi ông ở phố Mai Hắc Đế, tận trên lầu cao – tầng bốn, tầng năm gì đó. Gia cảnh xem chừng túng. Có cô con gái út là giáo sinh mẫu giáo chưa xin được chỗ làm. Về chuyện xin việc cho con, chắc Quang Dũng chẳng tháo vát gì. Nhà treo nhiều bức tranh thuốc nước do chính ông vẽ. Tôi vẫn còn nhớ những bức tranh sông nước tỉnh Sơn Tây. Hẳn ông yêu thiết tha quê hương mình – nhà thơ của xứ Đoài:
Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm
Em có bao giờ em nhớ thương?...
Thơ Quang Dũng có những bài thật hay. Cảm hứng lãng mạn cuốn bốc dào dạt. Thơ đầy chất họa, chất nhạc. Nhiều chữ dùng rất thật và rất bạo:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…
“Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Câu thơ như gập đôi lại, diễn tả dốc núi vút lên và đổ xuống gần như thẳng đứng. Câu tiếp theo toàn vần bằng, dường như diễn tả người lính Tây Tiến tạm dừng chân nơi một sườn núi cao, phóng tầm mắt ra xa, thấy nhà ai đó ở Pha Luông, thấp thoáng ẩn hiện qua một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi…
Tôi nhớ đến câu thơ Tản Đà trong bài Thăm mả cũ bên đường, cũng dòng trên nhiều thanh trắc, dòng dưới toàn thanh bằng:
Tài cao phận thấp chí khí uất,
Giang hồ mê chơi quên quê hương…
Chỉ có chỗ khác: Tản Đà thì tả tình, còn Quang Dũng thì tả cảnh. Dĩ nhiên là phải tài hoa lắm mới viết được những câu như thế. Nhưng xét đến cùng chỉ có lòng chân thật tuyệt đối, chân thật với cảnh, với người và nhất là với chính lòng mình mới có thể tạo ra được những câu thơ vừa giản dị, mộc mạc, vừa táo bạo, mới lạ như thế.
Có lẽ cái gốc lớn nhất của tài năng Quang Dũng là ở đó chăng: chân thật rất mực với lòng mình. Chân thật té ra là cả một bản lĩnh lớn lắm. Cho nên thơ cứ trong suốt mà gợi bao cảm nghĩ bồi hồi:
(…) Vầng trán em mang trời quê hương
Mắt em dìu dịu buồn Tây phương
(…) Mẹ đã chiều em như gái nhỏ
Thềm cao em bước mắt tươi cười
(…) Có những vợ chồng
Không là trăm năm
(…) Bỏ em, anh đi
Đường hai mươi năm
Dài bao chia ly…
Quang Dũng, bây giờ ông đang ở đâu? Hồn thi nhân đang lang thang nơi đâu? Hẳn ông đang du ngoạn thảnh thơi giữa trời mây non nước xứ Đoài yêu dấu của mình. Bởi vì xưa kia ông từng ao ước như thế:
Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn
Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng
Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng…
Thành phố Hồ Chí Minh, 10-5-1994
Nguyễn Đăng Mạnh

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét