Đó là câu nói của Nguyên Hồng với nhà văn Tô Hoài một tối năm 1957 được Tô Hoài ghi lại trong hồi ký Cát bụi chân ai. Đấy là khi cuộc kiểm điểm trong giới văn nghệ đang diễn ra căng thẳng sau vụ Nhân văn Giai phẩm, lúc Nguyên Hồng là thư ký tòa soạn báo Văn còn Tô Hoài phụ trách Nhà xuất bản. Cả hai ông đều bị cho thôi chức, bắt phải viết kiểm điểm. Tô Hoài thực hiện nghiêm túc, còn Nguyên Hồng thì dứt khoát không. Ông thấy mình không có gì sai khi cho đăng mấy tác phẩm bị phê phán trên tuần báo Văn. Đêm ấy, Tô Hoài đến nhà thăm Nguyên Hồng, nhân thể đem theo tờ báo có trích đăng bản tự kiểm điểm của Tô Hoài có ý khuyên ông bạn gàn bướng chịu khó làm kiểm điểm như mình cho mọi việc im nhanh. Tô Hoài không ngờ, sau khi đọc tờ báo trích in kiểm điểm của Tô Hoài, Nguyên Hồng bừng bừng giận dữ nói thẳng mặt ông bạn thân thiết gần 20 năm: "Tao không bao giờ thèm làm Câu Tiễn nhé! Tao đéo chơi với chúng mày nữa. Tao về Nhã Nam đây". Tô Hoài biết tính ông bạn thân nên hiểu là mình đã lỡ làm việc dại dột, không có cách gì ngăn Nguyên Hồng lại được nữa.
Thế là nói là làm, ngay sau đó, đang no ấm ở thủ đô, Nguyên Hồng bắt vợ đem mẹ già và 7 đứa con thơ bỏ căn nhà được cấp ở Hà Nội, bỏ biên chế nhà nước, bỏ sổ gạo, tem phiếu, gồng gánh cả nhà về lại Đồi Cháy, ấp Cầu Đen, thuộc xã Nhã Nam huyện Yên Thế (sau này thuộc huyện Tân Uyên), Bắc Giang, nơi trong kháng chiến chống Pháp là làng văn nghệ sĩ mà gia đình ông đã ở. Ông và vợ con đã xin lại đất, dựng lại nhà, cuốc cày trở lại để tự kiếm sống từ đó cho đến ngày ông mất 2/5/1982 trong 25 năm. Ta hiểu trong 25 năm đằng đẵng đó, ông và gia đình đã phải chịu khốn cùng như thế nào. Trong thời gian này, ông có về lại nhận công việc ở Hội Nhà văn VN tổ chức Trường Bồi dưỡng viết văn trẻ từ những năm cuối 1960 đến sau 1975, làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng từ năm 1964 đến khi ông mất nhưng nhà thì chỉ có ở ấp Cầu Đen. Nhưng tại nơi cùng cực đó, sau những Bỉ vỏ, Bảy Hựu, Những ngày thơ ấu...trước năm 1945, vừa tự sản tự cung sinh sống cùng gia đình, Nguyên Hồng đã viết hàng chục ngàn trang sách với các bộ tiểu thuyết lớn Cửa biển (4 tập), Núi trừng Yên Thế (2 tập) và hàng chục tác phẩm truyện thiếu nhi, truyện ngắn, bút ký,, thơ, phê bình, tản văn, kinh nghiệm viết văn khác.
Tất nhiên trong cuộc đời riêng, Nguyên Hồng đã là người khổ nhất trong các nhà văn VN, vợ con ông cũng phải chịu bao gian khổ hy sinh, đói khát, vì tình yêu tự do, lòng trung thực và nhân cách bất khuất của ông.
Con người cứng rắn, bất khuất ấy lại là người tinh tế, nhân ái, mau nước mắt vô cùng. 6 tháng sống cùng Cụ ở Quảng bá 1970-1971, chúng tôi rất lạ khi thấy thầy mình hay khóc, dễ khóc thế. Kể chuyện viết Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, lúc nào thầy cũng khóc nức nở. Thấy chúng tôi phải mang ba lô gạch đá tập hành quân ven Hồ Tây và đê sông Hồng, cụ ứa nước mắt nhìn theo. Nói chuyện với 4 học viên nữ của lớp, cụ òa khóc: "Không biết vào chiến trường bom đạn gian khổ thế, đàn ông còn khó, các con làm sao mà sống?". Cụ có biết ba tôi, nhà nghiên cứu Mịch Quang vốn rất gầy yếu, cụ nói với tôi: "Mấy anh chị em nhớ lo bồi dưỡng cho ba nhé" mà mắt ngấn lệ. Nhớ cụ Nguyên Hồng, tôi mới hiểu người hay khóc nhất rất có thể là con người mạnh mẽ nhất.
Còn về cái chết quá bất ngờ của nhà văn Nguyên Hồng theo lời kể của vợ ông thì khoảng 9, 10 giờ sáng ngày 2.5.1982, sau khi chụp ảnh cùng vợ con như cái ảnh tôi đưa hôm qua, Nguyên Hồng ra làm việc ở gốc khế, vác đất đắp vào chân tường nhà bếp. Tường xi măng mà không có móng, sợ chuột đào đổ, nên phải đắp đất cho vững. Bà bảo thuê thợ, ông không nghe, cứ tự làm lấy. Trời mưa lất phất. Ít lâu sau, ông thấy mệt, giải chiếu nằm nghỉ ở bờ tre. Bà Hồng dìu về nhà ngang, sau lên nhà trên. Rồi ông tắt thở khoảng 2 giờ chiều. Khi ấy, Nguyên Hồng mới 64 tuổi. Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh, khi Nguyên Hồng chết, nhà còn có năm bơ gạo, một con gà nhỏ. Trong túi còn đúng 20 đồng. Hàng xóm cho vay cỗ quan tài. Nguyên Ngọc cùng anh em Hội Nhà văn lên lo đám ma trước hết dốc túi Hội rồi lo chạy lên tỉnh, lên huyện, lên đảng uỷ xã bàn với họ cho tiền, cho lợn, cho gạo để cho gia đình ông sống đã. Hôm đưa ma Nguyên Hồng, quang cảnh thật là tội nghiệp: xe tang từ trên đồi đi xuống dốc, phải hò nhau đẩy trở lại làm phanh...
Nguyên Hồng, nhà văn lớn nhất của người lao khổ, một M. Gorki, một Victor Hugo của VN, đã lặng lẽ yên nghỉ trong một ngôi mộ nhỏ trên một gò đất nhỏ qua một dòng suối nhỏ, ở ấp Cầu Đen, Nhã Nam từ năm 1982 như thế. Mãi đến gần 30 năm sau, Hội Nhà văn mới tổ chức sửa sang tôn tạo ngôi mộ của ông bằng đá khá trang trọng chứ gia đình con cái đều quá nghèo khổ, không có khả năng.
Tôi những mong Đảng, Nhà nước ta và Hội Nhà văn VN nên mua mảnh đất ngôi nhà cũ của Nguyên Hồng cùng gò đất có ngôi mộ ông để hình thành một Bảo tàng Nguyên Hồng thật ấm áp và nhiều ý nghĩa trên vùng ấp Cầu Đen lịch sử.
Nguyên Hồng là một nhà hoạt động cách mạng tiền khởi nghĩa, một nhà văn vào loại lớn nhất, độc đáo nhất VN, đã được Nhà nước ta tặng Huân chương Độc lập và Giải thưởng Hồ Chí Minh và là một nhà văn của những người cùng khổ vào hạng nổi tiếng nhất thế giới.
Ông là một niềm tự hào xứng đáng của Đảng ta, nhân dân ta, tổ quốc ta, văn chương ta. Sao lại không thể mong sớm có một Bảo tàng về ông tại mảnh đất mà ông yêu thương nhất. Nếu được hình thành nghiêm túc, đây có thể là một bảo tàng văn học thu hút bậc nhất ở nước ta.
Ảnh 1: Chân dung Nguyên Hồng.
Ảnh 2: Nguyên Hồng và gia đình tiếp các nhà văn châu Âu tại nhà ở ấp Cầu Đen.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét