Thứ Năm, 2 tháng 3, 2023

TRIẾT HỌC MLN LÊN NGÔI.

 



Thời hưng thịnh nhất của Phòng Khoa học cơ quan tôi chính là vào đầu những năm 2000 khi nơi đây tập trung rất nhiều GS nổi tiếng với nhiều chuyên môn khác nhau.
Một trong số đó chính là GS.TS Triết học uyên bác Lê Thanh Thập.
lần cả Phòng đi nghỉ mát, trả lời câu hỏi của tôi:
“Triết học là gì? “
Ông kể một câu chuyện tiếu lâm thời Liên Xô như sau:
Vova được Tổ chức cử đi học lý luận Mác- Lê nin, nhằm đào tạo nguồn.
Sau tốt nghiệp, Vova quay về cơ quan làm việc. Trưởng phòng hỏi:
- Thế nào Vova, học được gì nào?
- Nhiều lắm
- Kể xem
- Tao được học nào là Phép biện chứng, Logic học, Triết học, Kinh tế chính trị ...
- Đó là cái gì?
- Làm sao giải thích cho mày được nhỉ. Thế này nhé, ví dụ có 2 anh chàng, một sạch, một bẩn, anh nào vào tắm.?
- Tất nhiên là anh bẩn.
- Nhưng theo Biện chứng, anh bẩn có xu hướng bẩn, nên không cần tắm, còn anh sạch có xu hướng sạch hơn, nên anh sạch đương nhiên sẽ vào tắm.
- Ờ, hay nhỉ. Còn gì nữa

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2023

MỘT THOÁNG VĂN CAO

 


Phùng Quán
Hồi còn đánh Mỹ, tôi làm việc ở Vụ Văn hóa quần chúng. Chị Băng, vợ anh Văn Cao làm ở Ban B, cùng trong ngôi nhà 51- Ngô Quyền, Bộ Văn hóa. Hồi ấy giá gạo ngoài ở Thái Bình lên đến 3 đồng một ký. Người Thái Bình đói kéo nhau về Hà Nội ăn xin. Một buổi trưa tôi ngồi uống nước chè chén 5 xu (ghi sổ nợ) ở cái quán xế bên cửa Bộ. Chợt nhìn thấy Văn Cao cùng với Đoàn Văn Chúc – Giảng viên Trường Đại học Văn hóa vịn vai nhau, chếnh choáng, xiêu vẹo đi ngang qua. Tôi ơi ới gọi hai anh vào uống nước, hút thuốc. Lâu không gặp Văn Cao, tôi sửng sốt thấy gương mặt anh bạc trắng như tờ giấy, hai má hóp sâu, chòm râu lơ thơ làm cho khuôn mặt anh càng thêm nhọn hoắt. Trong quán lúc này có bốn năm người khách. Họ đều nhìn anh. Và tôi biết chắc là họ không biết anh là ai.
– Anh hút thuốc lào đi. Tôi đưa điếu cày cho anh, nói với chị chủ quán: – Chị cho tôi gói thuốc lào!
Văn Cao chậm rãi thông điếu, hỏi chị chủ quán:
– Thuốc lào của chị là thuốc lào Tây hay thuốc lào ta?

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2023

Án văn nghệ Vũ Hoàng Chương (kỳ 2)


 

Vũ Hoàng Chương người gốc Bắc, làm thơ, nổi tiếng từ trước cách mạng tháng 8.1945 và trong giai đoạn 9 năm sau đó (1945-1954), hạng cây đa cây đề, nhưng từ khi đất nước phân chia 2 miền nam bắc thì bị “phân biệt đối xử” hoàn toàn trái ngược. Suốt thời gian 1954 tới 1975 ông sống trong Nam, con người và sự nghiệp của ông như thế nào, tôi không dám nhận xét bởi chỉ được nghe lại, nhưng có lẽ đây là thời vàng son, bởi thi sĩ từng rất được yêu mến kính trọng, từng làm Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam (chính quyền miền Nam), được giải văn chương toàn quốc (miền Nam), được dân chúng và giới văn nghệ xưng tụng là “thi bá”. Nếu không có tài, không có uy tín, dễ gì được vậy.

NHÀ VĂN KIM LÂN NÓI VỀ TRUYỆN NGẮN “VỢ NHẶT”

 


(Nguyễn Quyến ghi)
Dịch đói năm 1944-1945 thật khủng khiếp. Nhiều gia đình vừa có người chết đói, vừa có người bỏ đi, dần dần mất hẳn. Tôi tận mắt chứng kiến người chết đói nằm rải rác khắp nơi. Khi con người bị đẩy đến bờ vực cuối cùng của sự sống thì toàn bộ số phận và tính cách của con người họ sẽ biểu lộ ra. Chết đói là một thực tế khốc liệt. Đó là chết từ từ, hao mòn dần, quằn quại dần. Tôi được biết nhiều chuyện qua những năm tháng đó. Cái đói hành hạ tất cả mọi người nhưng không át được sức sống đơn sơ của tâm hồn họ. Nó vừa đắng cay, vừa đau đớn, đồng thời một mặt nào đó lại lóe lên những tia sáng về đạo đức, danh dự.

Truyện “Vợ nhặt” khai thác khía cạnh sau cùng của cái bi kịch ấy.
Ban đầu tôi viết một truyện dài có tên là “Xóm ngụ cư”. Tôi viết đến chương V thì dừng lại. Sau khi hòa bình lập lại, tôi và Nguyên Hồng làm tờ báo Văn. Trong bản thảo “Xóm ngụ cư” có một đoạn luôn ám ảnh tôi là đoạn viết về những người đói, về những buổi sáng ở vùng quê người ta phải ra chợ nhặt xác người đi chôn. Tôi viết lại chương đó thành truyện ngắn “Vợ nhặt” mà không đọc lại bản thảo cũ.

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

Án văn nghệ Vũ Hoàng Chương


 

 (kỳ 1)

Mấy hôm nay, vài tờ báo nhắc đến tên tuổi thi sĩ Vũ Hoàng Chương sau khi Viện Hàn lâm Thụy Điển, nơi có trách nhiệm xét và trao giải Nobel văn chương “giải mật” công bố danh sách những người được đề xuất nhận giải danh giá này năm 1972. Suốt năm 50, một đề xuất bị cất giấu trong bí mật theo quy định của giải. Còn người được nhà văn Thanh Lãng đề nghị, thi sĩ Vũ Hoàng Chương, cũng bị thể chế “cách mạng” chôn vùi sự nghiệp lừng danh, cả khi ông sống lẫn đã chết.

Nói chính xác, Vũ Hoàng Chương là một tên tuổi, danh tiếng lẫy lừng trong đời sống văn chương văn nghệ nước nam ta. Chỉ có điều, sự tỏa sáng bị đứt đoạn theo thời cuộc, nhất là theo thể chế chính trị cầm quyền.

Nhắc tới Vũ Hoàng Chương trước năm 1945, tức là trước cách mạng tháng 8, nếu bỏ khuyết Vũ Hoàng Chương thì đó là sai lầm không thể chấp nhận. Không có thơ Vũ, nền thơ bấy giờ sẽ bị lỗ hổng rõ to, chống chếnh, thiếu thứ gì đó rất cơ bản, mặc dù khi ấy đã có những Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Nhược Pháp… sáng rực rỡ. Mỗi người một vẻ nên không ai trên bầu trời thi ca ấy có thể thay thế được bản sắc riêng của Vũ Hoàng Chương.

Anh em ông Hoài Thanh - Hoài Chân năm 1942 đã viết về Vũ Hoàng Chương sau khi đọc tập thơ đầu tiên của Vũ, tập “Thơ say”: “Kể, cái say sưa của Vũ Hoàng Chương là một thứ say sưa có chừng mực, say sưa mà chưa hẳn là trụy lạc”. Thời đó, khi chưa bị chính trị chi phối, dắt mũi thô bạo, người ta nghĩ về nhau một cách công tâm vậy.

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2023

BÀI HÀNH VỀ THI CA

 


Sau 1975 cứ đến rằm tháng Giêng là xảy ra “ngày thơ Việt Nam” tụ tập trình diễn thơ trên khắp nước. Thực ra thi ca vốn “hữu xạ tự nhiên hương” Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Tú Xương ngày xưa đâu cần “rằm tháng Giêng” nào mà thơ vẫn truyền khẩu cho đến ngày nay. Thậm chí Cao Bá Quát quá chán ngán đành phải làm hai câu thơ trả lời thư mời gia nhập Mặc Vân Thi Xã của các thân vương nhà Nguyễn, ông buộc phải ví von thơ của “hội đoàn quốc doanh” thời đó “thúi” như thuyền mắm Nghệ An bốc mùi không ngửi nổi: “Ngán cho cái mũi vô duyên – Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An”…
BÙI CHÍ VINH
BÀI HÀNH VỀ THI CA
Thi ca cũng hệt như bóng đá
Hạng A thưa mà hạng B dày
Làm thơ cả nước gần trăm triệu
Trở thành thi sĩ đếm đầu tay
Trở thành thi sĩ đều thê thảm
Đứa bán ve chai, đứa chợ trời
Đứa nào cũng mánh đồ quốc cấm
Chỉ trừ thơ chẳng quốc doanh thôi

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2023

TRỞ NÊN NGƯỜI VIỆT VỚI NGƯỜI VIỆT

 


Linh mục Léopold Cadière đặt chân đến Việt Nam năm 1892, lúc mới 23 tuổi đời và được bổ nhiệm phục vụ tại giáo phận Huế. Vào giai đoạn đó, “đại đa số các thừa sai cao niên rất thông thạo tiếng Pháp. Nhưng nhiều vị chỉ biết tiếng qua loa tiếng Việt và chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện nghiên cứu cấu trúc của nó”. Có những thừa sai chỉ hiểu sơ sơ những câu nói thông thường và hầu như không thể nói tiếng Việt, nên luôn luôn phải có thông dịch viên.

Thể theo đường hướng nhập thể của Đức Giêsu và nguyên tắc hội nhập của vị đại Tông đồ Phaolô “Do Thái với người Do Thái, Hy Lạp với người Hy Lạp”, L. Cadière quyết định “trở nên người Việt với người Việt”. Cha quyết tâm chọn Việt Nam làm quê hương và cống hiến cả hồn lẫn xác cho miền đất rất thân thương, nhưng quá nhiều khốn khổ này. Đến giai đoạn cuối đời, khi bị quản chế tại Vinh cùng với sáu thừa sai khác (1947-1953) và khi Chính quyền Cách mạng đề nghị các vị trở về Pháp, cha nhất định xin ở lại để được cùng sống chết với anh chị em Việt Nam: “Cả đời tôi, tôi đã dâng cho xứ sở này. Cho tôi được ở lại và chết ở đây”.
Đâu là lý do của sự chọn lựa khác thường này? Năm 1942, nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm thụ phong linh mục, Cadière hé mở cho chúng ta thấy động lực thâm sâu dẫn cha đến quyết định học tiếng, nghiên cứu tôn giáo, văn hóa và lịch sử Việt Nam để rồi gắn bó, yêu thương và nhất quyết sống chết với những người dân hiền lành, cần cù, dễ thương… nhưng lại quá lao đao, khốn khổ. Nhìn lại tất cả quãng đường hội nhập cam go, Cadière chân thành thổ lộ nỗi niềm tâm sự đối với tiếng Việt và người Việt:
“Tôi hiểu người Việt, bởi vì tôi đã nghiên cứu những gì liên quan đến họ. Tôi đã học tiếng Việt ngay từ khi mới đặt chân đến nơi đây và hiện nay tôi vẫn tiếp tục học, và tôi nhận thức rằng tiếng Việt rất tế nhị về phương diện cấu trúc, rất phong phú về phương diện ngữ vựng, mà đến nay nhiều người vẫn lầm tưởng coi thường… Tôi đã nghiên cứu lịch sử Việt Nam và tôi thấy rằng, suốt những thế kỷ dài, đặc biệt từ khi thành lập triều Nguyễn, nước Việt được chống đỡ bởi lý tưởng cao cả về phát triển và tiến bộ (…).

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2023

CHUYỆN VỀ TẢ QUÂN LÊ VĂN DUYỆT & TẢ QUÂN PHU NHÂN ĐỖ THỊ PHẬN

 


Vì sao Tả Quân Lê Văn Duyệt xuất thân thái giám nhưng khi mất lại nằm cùng bà Phu Nhân?
Từ lâu người Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn xem Tả Quân Lê Văn Duyệt là một vị thần có hơi hám tâm linh dân gian, đây là một hiện tượng độc nhứt vô nhị.
Các dịp Lễ Tết số lượng người đi Lăng Ông đông gấp nhiều lần đình chùa, ngày thường khách vẫn nườm nượp nhang khói không lúc nào nguội lạnh.
Ngày Tết Nguyên Đán đầu năm trong tiết tháng Giêng se lạnh, khi mà Trời Đất giao hòa cùng lòng người thì bá tánh thích ghé Lăng Tả Quân đặng cầu nguyện cho một năm an bình, tài lộc .
Sài Gòn còn có mộ và đền thờ của Võ Tánh, Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy nhưng đông nhứt vẫn là Lăng Ông Bà Chiểu. Gần đó có đền thờ Trần Hưng Đạo nhưng dân Nam Kỳ ít khi lui tới.
Dân gian coi ông như thần và tế lễ ông tại lăng mang nghi thức thờ thần. Nghi lễ cúng kiếng tại lăng pha trộn giữa nghi lễ thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Nam Kỳ với nghi lễ cúng thần.
Người Việt cúng trái cây, bánh và nhang đèn. Người Hoa cúng heo quay theo tục của họ.

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2023

NGOẠI GIAO CHIẾN LANG PHANH GẤP ?


 

Phong cách ngoại giao chiến lang đầy ngạo mạn và hung hăng của Trung Quốc hình như được phanh gấp sau khi Tân bộ trưởng bộ ngoại giao Tần Cương (ảnh) được chính thức lên ngôi?


Tần Cương giữ chức thứ trưởng bộ ngoại giao vào năm 2018 và giữ chức đại sứ Trung Quốc tại Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 2021. Tương đương với việc giữ chức thứ trưởng dưới 4 năm và giữ chức đại sứ tại Hoa Kỳ chưa đầy 2 năm lên làm ngoại trưởng, sự thăng chức cho thấy ông rất được Tập Cận Bình coi trọng.


Bản thân Tần Cương những ngày ở Mỹ cũng rất tích cực đi xuống hoà nhập vào xã hội Mỹ (xem ảnh), gặp gỡ nhiều quan chức, nhân sĩ Mỹ và ngộ ra nhiều vấn đề về thực trạng nước Mỹ kể cả ưu và nhược điểm. Chắc chắn ông đã đúc kết ra một hướng đi hợp lý cho đường lối ngoại giao của Trung Quốc trong những năm tới. Từ đó đề đạt lên Tập Cận Bình để được đồng thuận. Lão PP đã từng nhìn nhận, sự hung hăng đối đầu của Trung Quốc với Mỹ là dại dột, càng dại dột hơn, nếu Trung Quốc xa rời Mỹ mà thân cận với Nga. Như vậy, chẳng khác chi thả con cá rô mà đi bắt con săn sắt. Lão cho rằng, đường lối ngoại giao của Trung Quốc vẫn nên trở về thời kỳ “thao quang dưỡng hối” giữ vị trí thấp để được lòng Mỹ và phương Tây. Nên giữ một khoảng cách với Nga và hoà nhập tích cực với cộng đồng quốc tế. Sau khi Tần Cương lên ngôi, lão theo dõi thì hình như gió đang đổi chiều.

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2023

CÂU CHUYÊN VỀ BỨC ẢNH “HAI NGƯỜI LÍNH"

 


Khoảng cuối tháng 3/1973, Hiệp định Paris có hiệu lực. Ông Chu Chí Thành khi ấy 29 tuổi, được cơ quan Thông tấn xã Việt Nam cử vào Quảng Trị ghi lại hình ảnh trao trả tù binh giữa Quân Giải phóng và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông đến mặt trận Long Quang, Cửa Việt, xã Triệu Trạch, Quảng Trị để tìm hiếu khu vực giáp ranh – vừa có quân đội VNCH vừa có bộ đội đóng quân.

Ông Thành nhớ lại: “Tôi nhớ, giới tuyến hai phe được phân định bởi chiếc dây thừng. Bất ngờ, tôi nhìn thấy hai phía “địch, ta” vẫy nhau, những người lính cộng hòa gạt dây thừng đi sang địa phận quân giải phóng, chuyện trò rôm rả. Một người lính trẻ Sài Gòn mặc bộ rằn ri, tươi cười bắt tay cô du kích xã Triệu Trạch. Anh bộ đội đứng cạnh thân mật quàng vai anh ấy. Xung quanh, người của hai phía đều vui vẻ, hồ hởi. Thú vị ngoài sức tưởng tượng, nên tôi nhanh chóng lấy nét, bấm một kiểu trung cảnh. Ðột nhiên người lính Sài Gòn nói: “Anh nhà báo, chụp cho em một kiểu với anh giải phóng đây” (Ảnh 1). Tôi nghe vậy thích quá. Lúc bấm máy, tôi thực sự hồi hộp và xúc động nhận ra rằng: Ðến thời điểm những người lính Sài Gòn không muốn cầm súng nữa”.