+ Mượn chuyện xưa nói chuyện nay (NSGV)
+ " Sứ mệnh " của người cầm bút nói riêng và giới trí thức nói chung trong xã hội, xưa nay
người ta đã nói rất nhiều ...; khi thì bằng những bài chính luận gai góc khi chỉ
là bút kí nhẹ nhàng dân dã...tất thảy đều vẽ ra sự thồng nhất trong mâu thuẫn
tự cổ chí kim giữa Quân và Thần !
Hôm nay đọc câu chuyện của Trần Chiến cảm
thấy thật nhẹ nhàng thú vị. Có thể khẳng định mà không sợ sai rằng vấn đề này anh
suy nghĩ rất nhiều, rất sâu...và hình như anh chưa nói hết, đến tận cùng của
"nan đề " luôn mang tính thời sự này. Cũng dễ hiểu thôi, khi "nó" đụng đến bát cơm manh áo của vợ con anh, và xa hơn nữa, đụng
đến vị thế, thậm chí sự tồn tại của bản thân anh .
Cũng chính vì vậy mà ta được mục sở
thi sự khéo léo - tài cao - của anh khi động đến câu chuyên nhạy cảm này. Văn
phong thật nhuyễn, dân dã mà trí tuệ, thông minh, đầy tự tin trong từng con
chữ, thậm chí đến từng dấu chấm dấu phảy! Mạch chuyện chảy đều, có sự thống
nhất trước sau, bi hài tự nhiên không chút gượng ép ....tóm lại là " PRO
" !! - hadongtran
Thượng
đẳng thần
Truyện ngắn của Trần Chiến
Phạm Vĩnh Nhiên, người tổng Hào Hiệp, Sơn Nam Hạ, là con một
bác phó cối. Nhiên hồi nhỏ hay đáo khăng, suốt ngày trèo cây bắt cá, lớn lên đốc
chứng thích chữ nghĩa. Được cha gửi học các danh sư, mười tám tuổi Nhiên đã tiếng
tăm thơm phức. Thi nhân đến nhà tha hồ đố chữ, khảo kinh, Nhiên trả lời rành rẽ,
giải các tầng nghĩa nông sâu đâu ra đấy. Bèn đều cùng đoán một tương lai rõ
ràng, phải nuôi dạy cho dày cả phần đức độ để rồi sáng danh thiên hạ.
Năm hai mươi tuổi, Nhiên thi Hương trúng thủ khoa. Lên thi Hội
rồi vào kinh thi Đình, chàng làm một lèo tới á nguyên, mà năm ấy không có giải
nguyên. Các chủ khảo dâng quyển của Nhiên lên Ngài Ngự, được khen rằng ý tứ đậm
đà, hùng tráng mà sâu xa, lại không khiêm nhường vờ vĩnh, đúng là có chí trị quốc
bình thiên hạ. Đặc biệt, văn phong như ẩn như hiện, có đấy mà lại không, không
động đến cái gì mà lại cứ nhắc người ta phải nghĩ đến cái đó, huyền hoặc vô
cùng. Vua Hiến Tông bảo thái sư: “Người này văn tài lai láng, nhưng chưa qua việc
cụ thể”. Lời tâu lại: “Bẩm, nên bổ vào một chân sở tại cho quen việc hương xã,
huyện nhậm đi. Mà phải luôn đổi chỗ, đi những thổ ngơi khác nhau mới vừa phong
phú kiến văn, lại vừa tránh được thiên hướng phiêu phiêu phưởng phưởng rất có hại.
Bây giờ nên cho một chức gì hèn hạ thôi, sau mươi năm mà không chìm đắm thì
đúng là chân tài”.
Tháng ba năm sau, ăn Tết xong, Nhiên bái tạ cha mẹ, căn dặn
các em rồi lên đường vào châu Sơn Đương mãi trong Hoan Ái, nhậm chân thư lại tại
huyện đường. Nhiên không coi việc nhỏ đấy là phí tài mình, rất chăm chỉ ghi
chép, cần mẫn sưu tập cả những huyền tích, phong tục từng làng xã, gia phả các
dòng họ, khiến quan phụ mẫu ưng ý lắm. Ngày nọ, tri huyện gặp vụ kiện khó: hai
chi họ Nguyễn ở làng Bá Đàm đâm nhau lòi ruột, ai cũng nhận mình là chi trên.
Cùng một gốc đấy nhưng bây giờ mỗi anh mỗi bàn thờ, hương hoa bề bề bên cạnh,
ra đình cứ chiếu trên đòi ngồi, đâm nhau đổ máu. Mà chẳng biết lấy đâu căn cứ để
xem xét. Vĩnh Nhiên bèn giở những ghi chép riêng, biết cách đấy ngoài trăm năm,
cụ cao tổ Nguyễn nhiều vợ đông con, sau này có một chi ly khai, lập bàn thờ
riêng, viết lại gia sử. Chiếu theo biên khảo ấy thì phân ra chi nào dưới, chi
nào trên rất dễ. Quan huyện cho người về Bá Đàm đọc gia phả, những hoành phi
câu đối trong cả hai nhà thờ họ thì thấy lời Nhiên quá đúng, theo nhẽ ấy mà xử
thì cả hai bên đều phải tâm phục. Ngài lại cao hứng, bảo Nhiên: “Thầy ngồi chân
thư lại này phí tài, để ta biện lời nói với trên cho một chỗ khác”. Nhiên vâng
dạ, ngày đêm lo việc phủ đường, đêm về chong đèn biên chép, khảo cứu các thư tịch
đầy rẫy trong vùng. Việc nghiên cứu là một hứng thú chả bao giờ cạn.

Quá một năm ở Sơn Đương, Nhiên có trát đổi làm huyện lệnh
Phác Hộ, một vùng cửa sông Cái. Chỗ ấy phù sa cuồn cuộn ra biển, dòng sông cứ
bên lở bên bồi đổi hàng năm. Các vụ kiện của dân làng đôi bờ nhiều vô kể, vì
bãi sông lúc thì nhập vào tả, lúc lại dời sang hữu ngạn. Vĩnh Nhiên bày cho hai
làng cử người dời đồng ra giữa sông lập trại, hoa lợi hưởng chung. Sau này,
trai gái hai bên lấy nhau, sinh thành đàn đống, hiềm thù chấm dứt. Thấy huyện lệnh
được cả việc quan lẫn việc dân, quan tuần phủ bèn gả con gái yêu cho. Nhiên lấy
được vợ sang nhưng băn khoăn, thưa với bố vợ: “Số con phải lênh đênh, trong
mươi năm chưa đứng chỗ được, sợ là vợ con phải di chuyển vất vả”. Nhạc mẫu cười
ha hả: “Biết thế là hiếu đễ, thơm thảo rồi. Còn chuyện gái theo chồng thì kể
gì!”.