Có thể khẳng định, quan hệ hai nước Việt Nam và Trung Quốc là một mối
quan hệ đặc biệt. Nó đặc biệt ở sự gần gụi, tương đồng. Không chỉ tương
đồng về chế độ chính trị, về phương thức tổ chức xã hội và phát triển
kinh tế trong thời kỳ hiện đại mà trước hết ở sự gần gụi láng giềng, ở
sự gần gụi văn hóa, lịch sử. Ít nhất mối quan hệ này đã tồn tại từ khi
lịch sử thành văn được ghi lại, hơn hai ngàn năm trước.
Một ví dụ là ngay từ thời Tần Thủy Hoàng đã lưu truyền câu truyện về
tướng Lý Ông Trọng, một người to lớn dị thường và có tài thao lược của
đất Giao Chỉ, làm đến chức Tư lệ hiệu úy của nước Tần, giúp Hoàng đế dẹp
loạn miền Tây Vực khiến quân Hung nô còn khiếp oai ngay cả khi ông đã
nằm xuống.
Làm cho nhân dân hai nước hiểu được, hiểu đúng mối quan hệ lịch sử
này là một việc làm cần thiết, thậm chí rất cần thiết trong bối cảnh
hiện nay, khi mà những sự tranh chấp về lợi ích lãnh thổ có nguy cơ vượt
khỏi tầm kiểm soát và phủ mây đen lên mối quan hệ ấy.
Trong tinh thần đó, chúng tôi hoan nghênh loạt bài viết dưới mái chung: "Những điều không thể không nói ra" mà Tạp chí "Tri thức thế giới" của Trung Quốc đăng tải vào dịp này năm ngoái. Đó là các bài: "Lịch sử và sự thật: Diễn biến quan hệ Trung - Việt trước năm 1949" (Tôn Hồng Niên, Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu lịch sử biên cương, Viện KHXH Trung Quốc) - "Quan hệ Trung - Việt từ 1949 đến nay" ( Vu Hướng Đông, Giám đốc Học viện Chủ nghĩa Mác, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) - "Những biến thiên trăm năm qua trong chiến lược ngoại giao với các nước lớn của Việt Nam" (Tôn Hồng Niên, Vương Thâm, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) - "Viện trợ Trung Quốc cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ" (Lục Đức An, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Trịnh Châu) và "Vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng Đông Nam Á" (Trương Minh Lượng, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Tế Nam).
Mặc dầu còn có những ý kiến phản đối gay gắt của một số nhân sĩ, trí thức Việt Nam, theo dự kiến tổ máy thứ nhất của nhà máy điện nguyên tử (NMĐNT) đầu tiên ở Việt Nam sẽ được hoàn thành vào năm 2020. Còn các chuyên gia Việt Nam, những người sẽ làm việc tại nhà máy điện này, đã bắt đầu được đào tạo từ hai năm trước. Vào năm 2010, đã có 29 chàng trai cô gái Việt Nam đến thị trấn nhỏ Obninsk, nằm cách Matxcova khoảng 100 km. Đây là đợt tuyển sinh đầu tiên của Trung tâm đào tạo hạt nhân quốc tế khi đó mới được thành lập. Trung tâm hoạt động trên cơ sở của Viện năng lượng nguyên tử (IATE). Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên ở Liên Xô đã được xây dựng tại Obninsk và thị trấn này đã trở thành thành phố khoa học đầu tiên của đất nước. Viện năng lượng nguyên tử là trường đại học chính tại đây. Công việc đào tạo ở đây được thực hiện rất nghiêm túc. IATE sử dụng một cơ sở thực nghiệm độc đáo bao gồm hàng chục viện nghiên cứu khoa học với các thiết bị hiện đại nhất, do các chuyên gia hạt nhân hàng đầu của Nga giảng dạy. Các ngành học chính của sinh viên Việt Nam là xây dựng NMĐNT, lắp đặt và hiệu chỉnh các thiết bị, điều khiển nhà máy điện và đảm bảo an toàn phóng xạ hạt nhân.

