Thứ Hai, 6 tháng 7, 2020

CON GÁI CỦA BA (Thư của một người lính VNCH)


Con gái của ba!

Còn bốn tháng nữa con tròn 56 tuổi. Nhưng trong lòng Ba con vẫn còn trẻ như tuổi 15. Ba nhớ lại cũng ngày nầy 18 năm về trước, cha con mình đùm túm dắt nhau đi vượt biên rồi sang Mỹ.

Ba nói là "đùm túm" vì hồi đó Ba từ trại tù cải tạo về thì con đã gần 40 tuổi. Khổ. Nghèo. Nhìn con gái Ba héo úa dung nhan mà Ba khóc ròng. Tại ba! Tại Ba hết thảy! Làm con gái của một "sĩ quan nguỵ" nên từ trường Đại Học ra con không có việc làm. Hàng ngày, ngồi ở góc chợ Bàu Hoa vùng Ngã Tư Bảy Hiền-Sài Gòn để bán từng tô bún mắm. Cứ ba tháng một lần lặn lội ra Bắc thăm Ba.

Năm 1975 Mẹ con mới 50 tuổi. Người vẫn nghĩ rằng Ba chỉ đi "học tập ít ngày". Thành ra, nghe Ba đi Bắc, Mẹ con bị shock. Cộng thêm bệnh cao huyết áp sẵn có Mẹ còn "nhất định nằm một chỗ!". Thế là con gái của Ba vừa lo cho Me, vừa lo cho Ba. Ba ở tù 8 năm thì Mẹ con mất. Phải đến 4 năm gian khổ đời con nữa Ba mới được trở về.

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2020

NGUYỄN HUY THIỆP


Hiếm có ai được trời cho lộc văn chương nhiều như Nguyễn Huy Thiệp. Một nhà văn mà chỉ với vài truyện ngắn đầu tiên xuất hiện đã là tâm điểm của mọi ồn ào, mọi tranh luận, và chỉ sau một thời gian ngắn thì tên tuổi của ông đã đóng đinh trong dòng văn học Việt Nam, trở thành một hiện tượng mang tên Nguyễn Huy Thiệp.

Nhưng rồi bỗng một hôm, Nguyễn Huy Thiệp tuyên bố ngừng viết, bán văn nghiệp của mình với giá nửa tỉ cho NXB Trẻ để tận hưởng tuổi già nhàn nhã. Cuộc sống hàng ngày của ông bây giờ là một cuộc rong chơi.

Gặp Nguyễn Huy Thiệp một ngày chớm lạnh của mùa đông Hà Nội, trong quán cà phê rất Hà Nội, ngồi cùng ông ôn lại nhiều chuyện cũ và biết rằng, trong con người đầy lạc quan và (dường như) đầy sự tỉnh táo Nguyễn Huy Thiệp, là một tâm hồn cô đơn không có gì khỏa lấp nổi, như số phận rất nhiều nhân vật, nhiều con người trong tác phẩm của ông.

*
NGUYỄN HUY THIỆP

Nghe đồn Nguyễn Huy Thiệp bị tai biến phải nhập viện, lại nhớ đến mình đã viết bài này năm 2017. Ôi nhân sinh như mộng!

Tướng Về Hưu đưa tên tuổi Nguyễn Huy Thiệp trở thành cây bút số một ở Việt Nam vào những năm đầu Đổi Mới. Ông Thiệp nổi tiếng đến mức làm lu mờ tất cả những tên tuổi khác trên văn đàn ngày đó. Ký giả, văn sỹ nước ngoài hễ đến Việt Nam là hỏi thăm về ông Thiệp. Họ làm như ở Việt Nam ngày đó, nhà văn, nhà thơ đã chết hết cả rồi, chỉ còn mỗi Nguyễn Huy Thiệp sống sót. Cả ngày ông Thiệp bận tiếp khách đến nỗi không còn thời gian đi đái.

Nguyễn Huy Thiệp hay có khuynh hướng tìm tòi sự chân thiện theo một thể tính nguyên sơ, không có sự pha tạp của xã hội. Chẳng hạn, những gì ông coi là chân thiện mỹ thì đa số sống ở rừng rú, không đi học, không va chạm gì đến xã hội mà ta gọi là văn minh. Trái lại, những gì ta cho là đại diện của công lý và tiến bộ (cán bộ nhà nước, công an, bộ đội, quan chức, thương nhân…) đều là bọn đạo đức giả, hoặc quỷ đội lốt người. Theo như ý của ông, một con người chỉ thực sự đẹp đẽ và đáng yêu khi anh ta trở về với thiên nhiên, được sống là mình với những bản năng sẵn được ban cho.

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2020

Thành ngữ mới: Bơ thừa sữa cặn


Đưa thêm bài này nữa cho đủ cặp "Phồn vinh giả tạo - Bơ thừa sữa cặn" đúng quy trình.
Thành ngữ mới: Bơ thừa sữa cặn
Gọi là thành ngữ mới bởi nó được dùng khá nhiều và khá lâu, rất phổ biến, trong một thời gian dài. Tất nhiên tác giả của nó là những người cộng sản ở miền Bắc. Ngay cả trong sách báo những nước khối xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc, tôi cũng chưa được đọc mấy chữ ấy bao giờ.
Nhớ hồi những năm 60 - 70 ở miền Bắc, khoai còn chả đủ ăn, lấy đâu ra bơ sữa. Tôi sinh năm 1955, một năm sau khi miền Bắc được giải phóng khỏi người Pháp, thú thực mãi đến hơn 20 năm sau mới biết mặt mũi miếng bơ. Còn sữa, cũng chỉ nghe nói thì nhiều chứ chả mấy khi được uống. Với nông dân đặc sệt như tôi, bơ sữa là cái gì đó rất cao sang, mà cũng chả mơ được ăn uống nó bởi vì hiểu phận mình chỉ có khoai sắn làm bạn. Đôi lần bu tôi cười bảo, nhà mình thương nhất ông Cào (tức tôi), đẻ đúng năm đói kém, chả có sữa siếc gì. Lại còn kể anh trai tôi lúc bé tha hồ uống sữa hộp Con chim bởi hồi Pháp chưa rút khỏi Hải Phòng, nhà tôi có tủ hàng tạp hóa, sữa và bánh kẹo ê hề. Nghe kể, hận mình sinh sau đẻ muộn, không gặp thời, hì hì. Năm 1975, ông Tế anh họ tôi là Phó chủ nhiệm HTX nông nghiệp được phân phối mấy hộp sữa đặc Moloko của Liên Xô, biếu thày tôi một hộp. Thày quý lắm, đem cất vào tủ, để khi nào ai trong nhà ốm đau thì mới lấy ra bồi dưỡng, chẳng ngờ để lâu quá hết hạn dùng. Tới hôm tình cờ thấy nó, khui ra, bên trong đặc như đất sét vàng. Tôi tiếc, liều ăn hết, may mà không bị tào tháo đuổi.

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Thành ngữ mới: Phồn vinh giả tạo


Thành ngữ mới: Phồn vinh giả tạo

(Như đã nói, tôi định đưa bài này lên kế tiếp để bổ sung cho bài "Sự nhầm lẫn đáng tiếc", sau định thôi bởi không muốn làm phiền bạn đọc. Tuy nhiên hôm qua coi tivi nhà nước thấy người ta ầm ĩ quá, vẫn nhắc tới sự phồn vinh giả tạo của miền Nam trước năm 1975 nên đành cho nó lên để có cái nhìn khách quan).

Trước hết cần sơ sơ về từ vựng. Trong tiếng Việt, “phồn vinh” là tính từ, chỉ sự giàu có, sung túc, thịnh vượng, no đủ, đầy đủ về vật chất. Theo nghĩa Hán Việt, “phồn” là nhiều, phồn thịnh là rất tươi tốt, phồn hoa để chỉ chỗ đông vui, phồn thực là rất nảy nở (thường để chỉ cơ thể tính dục), ông Mạc Ngôn bên Tàu có cuốn tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” nói về sự phồn thực (phong và phì đồng nghĩa với phồn), được bên ta dịch thành Báu vật của đời... “Vinh” là vinh hoa, giàu sang, thịnh vượng, tươi tốt. “Phồn vinh” là đầy đủ, giàu sang, vật chất dồi dào. Ta thường nói cuộc sống phồn vinh, đất nước phồn vinh, xã hội phồn vinh.

CAO LẦU TRÊN LẦU CAO


Cao lầu trên lầu cao
(Ý kiến của một Saigonnese)
Tương truyền rằng cao lầu là món từ người gốc Hoa, do các thương gia qua lại nơi cảng phố Hội An khi xưa truyền lại.
Khi xưa các thương gia nơi phố cảng thường xây nhà lầu, tầng trên tầng dưới mới đủ chỗ đủ kho mà chứa hàng hoá, nên nhà xưa ở Hội An thường có cái khoang trống giữa nhà - hình thức sử dụng chắc giống như cái thang máy ngày nay, dùng ròng rọc mà kéo từng kiện hàng lên hàng xuống - Nơi ở là trên lầu cao thành ra cái món ngon đó cũng được ngồi trên lầu cao mà thưởng thức, dân gian đặt luôn cho món đó là món cao lầu.
Món ngon thường hay đi xa mà lạ thay món cao lầu thì mười người như một đều khẳng định rằng chỉ ngon ở Hội An. Cho dù có chở nguyên liệu bằng máy bay vào tận bếp thì thực khách kén ăn vẫn lắc đầu nguầy nguậy rằng không tròn vị của cao lầu. Hay chăng vì thiếu cái chỗ ngồi cao cao tay gắp sợi mì, mắt nhìn sông Hoài, lòng nghe hồn cổ phố?
Có lẽ món cao lầu gắn liền với quá nhiều sản vật địa phương, nhiều đến nỗi không thể nào thay thế được. Mà làm sao thay ngọn rau Trà Quế bé xíu mà thơm ngây, làm sao chở được nước giếng Bá Lễ để xay gạo ngâm thành sợi cao lầu, làm sao có nước tro nấu củi lấy tận Cù Lao Chàm để ngâm gạo? Rắc rối cầu kỳ đến vậy thì thôi đành đổ đường vào tới Hội An để ăn tô cao lầu cho đúng vị, đừng chê.

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020

CHUYỆN SINH ĐẺ CÓ KẾ HOẠCH (Kỳ 4, cuối)



Trong tâm thức đông đảo người dân xứ này, hai nhân vật lịch sử được kính trọng và yêu mến nhất, chiếm được nhiều cảm tình nhất, là cụ Hồ và đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hình ảnh cụ Hồ trở nên chói lọi rực rỡ, tất nhiên chủ yếu từ con người cụ, nhưng cũng có phần tô vẽ không nhỏ của bộ máy tuyên truyền. Nghệ thuật tuyên truyền của người cộng sản, thì ngay cả những bậc thầy tuyên truyền đủ mọi thời đại xưa nay cũng phải chịu thua. Vị lãnh tụ của họ được đẩy lên thành đấng bậc vẹn toàn không tì vết, có khi thần thánh, ngọc hoàng, ông trời, đức phật, đức chúa cũng không bằng. Tôi cả đời sống trong thể chế cộng sản, từ lúc bé bắt mũi chưa sạch tới giờ, đã hiểu và nhận ra điều chối tỉ ấy.

Vậy nhưng, với trường hợp cụ đại tướng Võ Nguyên Giáp, có nhẽ là ngoại lệ. Những gì cụ Giáp có được, chủ yếu do cụ tạo ra, ít phải nhờ “bộ máy” họa sĩ. Tài năng, đạo đức, công tích, vẻ đẹp… cụ có được đều tự thân sinh ra, tồn tại vững chắc trong cõi đời, trong lòng người. Không phải vô cớ mà những người lính nhiều thế hệ đã gọi cụ bằng danh hiệu cực kỳ giản dị mà cao quý: người anh cả của quân đội, anh Văn. Người dân bình thường yêu quý kính phục cụ kể cả khi cụ là người lẫy lừng đỉnh cao lẫn khi cụ là vị tông đồ chịu nạn. Hình ảnh anh Văn, vị đại tướng, nhà cách mạng qua bao biến thiên thời đại, qua bao cuộc bãi bể nương dâu, ít bị suy suyển, trong xã hội lẫn lòng người.

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2020

TỪ ĐIỂN CHÍNH TẢ HAY TỪ ĐIỂN ẨU TẢ?


THÀ CÃI NGU CÒN HƠN IM LẶNG

Đã sai mà không biết nhận lỗi còn cãi chày cãi cối để lấp liếm cái sai thì thật đáng ghét. Đáng ghét vì đối với những trường hợp tác giả dự án hay công trình có tính quốc gia thường mang cả ba phẩm chất: gian, tham và ngu. Gian vì quanh co lấp liếm cái sai. Tham vì làm ẩu để moi tiền dân. Ngu vì sai mà không biết mình sai.

Vụ Từ điển Chính tả của Viện Từ điển sai tràn lan chính tả như bọn vô học viết bảng biểu ở vỉa hè, có thuộc tính trên hay không thì người trong cuộc tự hiểu. Nên nhớ chính tả là bài tập tiểu học chứ không phải là một vấn đề học thuật cao cấp.

Một lần, khi duyệt đề thi, không biết đã lần thứ mấy, tôi thấy chính giảng viên ngôn ngữ học ra đề thi viết "Câu tĩnh lược". Mọi lần tôi tự tay sửa luôn dấu ngã thành dấu hỏi: "Câu tỉnh lược" cho xong. Không cần gọi giảng viên lên sửa, mất thời gian. Lần này có giảng viên ra đề thi ngồi trước mặt và khá đông người, tôi hỏi: "Tĩnh lược hay tỉnh lược?". Bất ngờ giảng viên ra đề thi cãi: "Tĩnh lược, dấu ngã". Lại còn nhấn thêm: "Nhiều người không biết nên có thói quen viết thành dấu hỏi". Không ít người hùa theo: "dấu ngã là đúng!" Tôi hỏi: "Vậy "Tĩnh" ở đây có nghĩa là gì?" Bất ngờ giảng viên ra đề thi trả lời: "Tĩnh là tĩnh lặng ạ!" Nhiều người gật. Tôi mắng: "Sai cả đám mà không biết mình sai. Tĩnh lược là làm giản lược một cách tĩnh lặng à? Thế thì câu rút gọn sao lại gọi là câu tĩnh lược? Lặng lẽ giảm bớt thành phần câu giống như lặng lẽ rút ngân quỹ à?"

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2020

ĐÁM GIỖ BÀN CHÂN


Anh tha thiết mời tôi đến chơi với anh, tha thiết hơn mức một người U80 luôn thèm có bạn trò chuyện mà tự mình không đi đâu được.
Nhà anh trong khu tập thể lắp ghép Yên Lãng, kiểu chuồng cu hai tầng. Nhiều người đập bỏ xây lên 5 tầng, anh vẫn để nguyên bản. Hai vợ chồng già cần gì cho lắm phòng, vả lại anh cụt một chân làm sao leo lên tầng cao.
Anh lạch xạch mở cổng đón tôi, lắc lư mái tóc dài bạc trắng hắt xuống vai lộ rõ vầng trán cao bướng bỉnh của ông đồ Nghệ trên cặp mắt ướt như sẵn sàng khóc. Tôi theo anh lên tầng hai, căn phòng khoảng 14 mét vuông mà anh gọi là thư phòng. Nhìn anh đi, không ai nghĩ anh cụt một chân, chỉ có cảm tưởng đó là người già leo thang vất vả.
Anh pha chè, bóc bao thuốc, nói anh rất vui vì em đã đến. Người Nghệ rành mạch chuyện xưng hô, ai hơn tuổi làm anh và gọi người ít tuổi hơn bằng em rất thân thiết. Làm xong mấy việc cần thiết, anh xin phép cởi chiếc chân giả dựng vào cạnh ghế:
 ⁃ Anh cởi ra cho mát.
Tôi nhìn cái chân cụt trên mắt cá khoảng mười phân của anh, nhớ lại anh đã mất bàn chân trong trường hợp nào.

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2020

Chuyện sinh đẻ có kế hoạch (phần 3)

tranh: Thành Chương
Nhắc thêm tí nữa về những kế hoạch và phương cách ngăn chặn sinh sản ở xứ này suốt mấy chục năm rồi hãy quay về chuyện cụ “thống chế đi đặt vòng”. Thời tôi tuổi thiếu niên và thanh niên ở miền Bắc, tức là khoảng thập niên 60 - 70, việc sinh đẻ có kế hoạch được nhà nước quán triệt càng ngày càng chặt. Đối tượng trước tiên bị nhắm tới, chả cần nói ra, cũng biết là phụ nữ đàn bà con gái. Họ bị đặt vòng để ngăn cản sự thụ thai. Không có thai thì có mà đẻ được khối.
Thú thực, nghe nói tới đặt vòng từ lẩu lầu lâu rồi, từ hồi còn bé, mãi tới sau này, nhưng tôi cũng chả biết phương thức đặt vòng chặn thai xuất phát từ đâu, tại sao lại gọi là vòng. Vẫn hiểu “cái gì không biết thì tra gu gồ” sẽ ra ngay, nhưng nhiều khi cứ để lờ mờ nhấp nhoáng cái sự hiểu biết có khi lại hay, để còn kích thích việc khám phá, tò mò.

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2020

PHỦI TAY - BÀI THƠ CỦA ÔNG VŨ MÃO VỀ ĐÁM TANG TƯỚNG TRẦN ĐỘ


Mậu tuất 2018 ông Vũ Mão nhận thấy sức khoẻ có vấn đề do bước qua tuổi 80, thay vì làm thơ vịnh xuân như mọi năm ông viết bài thơ "Phủi tay" để giãi bày nỗi lòng của mình về một trang đau buồn, áy náy nhất đời ông, là tiếng xấu trong lễ tang tướng Trần Độ.

Bài thơ cũng nói rõ sự thật về các ông Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười, Phan Diễn, Nguyễn Khoa Điềm ... là thủ phạm chính việc gây tiếng xấu đối nhân xử thế trong đám tang tướng Trần Độ, nhưng lại phủi tay để mình ông Vũ Mão lãnh đủ. Trong chính trường VN hiếm có một lãnh đạo cao cấp của đảng dám vạch mặt các vua quan thiên đình như thế này.

Phải nói rằng đây là hành động dũng cảm của ông Vũ Mão, và trước khi lìa đời ông muốn để lại bài học cay đắng cho bao vị quan công quyền khác: Hãy dũng cảm ngăn chặn điều xấu xa, thất đức, vi phạm pháp luật của bất cứ ai, đừng ngu xuẩn như ông để "kẻ ăn ốc người đổ vỏ", mang tiếng xấu xuống mồ.