Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2020

TẬP TỄNH LÀM NGƯỜI


 

Vợ gã bỏ gã theo người khác, để lại cho gã một gia tài rách bươm xơ mướp. Gã buộc phải làm anh gà trống vụng về chăn dắt đàn con dại !
Nỗi sầu tình, sầu đời gọt gã héo cả người. Cảnh khốn cùng phủ chụp xuống đời gã ngắc ngứ, thừa sức công phá gã hóa rồ. Ngày lại ngày - gã đạp xe thồ khi cuối chợ, đầu ga; khi lang thang chở gió rã rượi cả hai chân. Ít ai dám lên xe một gã mặt mày khổ não, râu tóc hoang dại.
Đêm nay, như mọi đêm - gã dựng xe dưới mái hiên ga chờ chuyến tàu khuya. Dáng người gã cùng bộ áo công nhân cũ mèm, hòa trong vũng nhờ nhờ của ngọn đèn điện sân ga, nom như khối giẻ cũ biết nhúc nhích.
Tiếng còi tàu ré lên tha thiết như mũi âm thanh xuyên bóng đêm yên tĩnh rồi oà ra the thé âm u.
Gã lật đật đứng dậy, phóc lên xe, đạp vội ra ghi Nam, chực khách. Ở đó, có năm sáu đồng nghiệp gã đứng chờ.
Theo quy ước dân xe “ai đến trước có quyền giành trước”, gã chỉ dám chú ý đến thiếu phụ bồng con lủi thủi đi ra. Chị ăn mặc nhếch nhác nghèo khổ. Đám xe thồ không ai muốn giành chị vì vẻ cơ hàn hiện rõ trong dáng luộm thuộm kia.
Chị lách qua đám người lộn xộn rồi lầm lũi đi…
Chị đi đâu với đứa con nhỏ trong đêm khuya?
Lòng gã dấy lên mối thương cảm, định bụng chở giúp chị một cuốc xe:
- Chị ơi chị, đi xe thồ không, tôi không lấy…
Thiếu phụ sùm sụp chiếc nón lá vẻ không nghe.

ĐỐN HẠ 200HA RỪNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN PHONG ĐIỀN ĐỂ LÀM 3 THỦY ĐIỆN RÀO TRĂNG 3, RÀO TRĂNG 4 VÀ ALIN

 


Ba nhà máy thủy điện nằm trong vùng lõi, 1 nhà máy ở khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn Phong Điền. Việc làm thủy điện đã khiến 200 ha rừng đặc dụng bị mất, ảnh hưởng không chỉ đến bảo tồn, đa dạng sinh học và còn tác động tiêu cực đến địa mạo, địa chất nơi đây.
-----
Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Phong Điền ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế được thành lập năm 2002, rộng trên 41.500 ha với 43 tiểu khu. Việc thành lập nhằm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, quần thể của các loài động thực vật quý hiếm, các loài đang bị đe dọa, các loài đặc hữu của vùng núi thấp miền Trung; duy trì giá trị sinh thái và chức năng phòng hộ đầu nguồn của khu vực đối với các con sông lớn Mỹ Chánh, Ô Lâu, sông Bồ.
Khu BTTN Phong Điền được công nhận là một trong những nơi cư trú cuối cùng của gà lôi lam màu trắng, là vùng bên trong của Vùng chim đặc hữu (EBA) vùng địa hình núi thấp Trung Bộ. Tại đây còn có 6 trong số 9 loài có vùng phân bố hạn chế trong EBA này, đáng chú ý là gà so Trung Bộ (Arborophila merlini), khướu đuôi ngắn (Jabouilleia danjoui).

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2020

32 năm ngày mất của nhà thơ Quang Dũng (13/10/1988).

 


32 năm ngày mất của nhà thơ Quang Dũng (13/10/1988).
Ông là tác giả của một số bài thơ nổi tiếng như Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ... Quang Dũng còn là một họa sĩ, nhạc sĩ. Ông thuộc thế hệ nhà thơ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mạng tháng Tám.
Tên thật Bùi Đình Diệm, sinh 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội).
Trước CMT8, ông học trường Thăng Long. Sau tốt nghiệp, ông dạy học tư ở Sơn Tây.
Ông gia nhập Quân đội Việt Nam sau ngày cách mạng thành công, làm phóng viên tiền phương báo Chiến đấu.
Năm 1947, ông học Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khoá học, ông làm Đại đội trưởng tiểu đoàn 212, Trung đoàn 52 Tây Tiến. Ông tham gia chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua Tây Bắc.
Ông làm bài thơ Tây Tiến năm 1948 khi dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III tại làng Phù Lưu Chanh (Hà Đông).
Bài thơ "Tây Tiến" của ông được nhiều người yêu thích, được xuất bản và phổ biến rộng rãi và được nhiều người yêu thích ngay cả ở miền nam thời đó.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

CÁ NHÂN HAY THỂ CHẾ?

 

thành viên của chính phủ Phần Lan

Tại sao chúng ta cứ loay hoay, hì hục nhổ từng cái đinh có tên “cơ chế” do chính chúng ta đóng vào thể chế, và mỗi lần đau đớn, khó khăn để nhổ được, chúng ta lại tự huyễn mình là sáng tạo, đổi mới, năng động ... . Đã đến lúc nhắc nhau “Đổi mới hay là chết” bởi đất nước chỉ cỏ thể phát triển bền vững khi được vận hành bẳng một thể chế tiến bộ theo đúng những giá trị phổ quát mà thế giới đúc kết hàng trăm năm nay.

Mời mọi người đọc bài viết của nhà văn Tạ Duy Anh có nói về chủ đề này.

***
CÁ NHÂN HAY THỂ CHẾ?
Không ai phủ nhận vai trò của cá nhân trong việc tạo ra những thay đổi, trong mọi lĩnh vực. Ngay cả với một nền pháp trị được thiết kế ưu việt như Hoa Kỳ, mỗi tổng thống vẫn có thể “đi vào lịch sử” không chỉ với tư cách lãnh đạo của một siêu cường, mà còn với tư cách kiến tạo hoặc hủy hoại. Nhưng ngoại lệ luôn chỉ là ngoại lệ. Về cơ bản thì ở những quốc gia hạng nhất hành tinh, thể chế luôn là cái nền tảng vững chắc cho sự phát triển, đảm bảo tự do cá nhân nhưng vẫn đạt được ổn định xã hội. Thể chế là mảnh đất để mọi tài năng đều có thể, có cơ hội thể hiện hết biên độ và thành tựu của bất cứ cá nhân nào cũng mặc nhiên là thành tựu của đất nước.

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

Sự nhầm lẫn đáng tiếc


Trên địa chỉ phây búc của một người tử tế, kiến thức sâu rộng, vừa có cái tút (status) về thực chất của nền kinh tế Việt Nam cộng hòa, kinh tế miền Nam trước ngày 30.4.1975. Phải công nhận tác giả đã chịu khó mày mò, lục tìm, trích dẫn những tư liệu để khẳng định rằng sự phát triển, giàu có, no đủ của miền Nam trong những năm chiến tranh chỉ là thứ phồn vinh giả tạo, dựa hơi Mỹ, được Mỹ viện trợ, bơm hơi cho. Nó (Mỹ) mà cắt một cái, chết ngay tức tưởi. Nó nuôi chiến tranh chứ nuôi gì dân chúng… Nói tóm lại, quan điểm của tác giả không khác gì quan điểm của bên thắng cuộc, tức là miền Nam rên xiết trong bộ máy kìm kẹp của Mỹ “ngụy”, nếu đời sống có được thế này thế kia chẳng qua cũng chỉ là phồn vinh giả tạo, kiếp đời bơ thừa sữa cặn. Cắt viện trợ là chết. Cả quan lẫn dân chả làm được thứ gì ra trò, chỉ ăn chơi thì giỏi. Đại loại vậy.
Tôi không dám vào đó ý kiến ý cò bởi thấy những người đồng tình hăng lắm, chả khác chi đám đông sau khi nhà lãnh đạo hô “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” đã rùng rùng giương rừng cánh tay “Quyết tâm, quyết tâm, quyết tâm”, mình mà xớ rớ, tan xác chẳng chơi. Nhất là đang kỷ niệm tháng 4 rực lửa.

MỢ TÔI

 

ảnh minh họa

Mãn tang vợ được vài năm. Nhìn đàn con thơ dại. Đứa lớn đút đứa nhỏ. Nước mắt nước mũi chảy tèm lem. 6 đứa suốt ngày loi nhoi lúc nhúc như bầy "heo con". Cậu chịu không nổi !
Một sáng đầu hè. Cậu dắt về một người phụ nữ gốc Bắc. Nghe nói lúc đi buôn ở cửa khẩu Lạng Sơn, kết mô-đen bà này, Cậu ỡm ờ dò ý. Ai dè sáng hôm sau Cậu dắt về Bến Tre thiệt. Quá trời người cản, nói nhẹ nhẹ có, chửi thẳng vào mặt Cậu cũng có :
- bộ xứ dừa này hết đàn bà cho thằng tư mày chọn rồi à ?
- rồi biết, người ta có uống "nước phèn" chung với mình đặng hôn ??
- đàn bà gì mà gò má nhô cao đụng nóc, số sát phu ...
- ... 536jhvbxd@,"/*6=
Bỏ ngoài tai tất cả. Cậu chỉ nói :
- tui thương con gái người ta, tui mới lấy ...
Rồi cũng chính vì 1 tiếng THƯƠNG đó mà bà ta gắn bó với Cậu đến chết cũng không chia lìa ...
Bánh đúc có xương.
Không hiểu sao, Cậu Mợ quyết định không đẻ thêm đứa con chung nào nữa. Cả thảy tình thương ... 2 vợ chồng dành hết cho 6 đứa này. Mà kể cũng lạ, Mợ, bả thương tụi nhỏ càng lúc càng nhiều hơn ổng. Vậy mới ghê !

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2020

KHI MỘT TÀI NĂNG LỚN, MỘT TUỔI TRẺ ANH HÙNG BỊ THA HÓA - HAY LÀ BI KỊCH NGUYỄN ĐÌNH THI

 


Trần Mạnh Hảo
Mùa thu năm 1988, chúng tôi đang học tại học viện Goocky, khóa tại chức 4 tháng tại Matxcơva thì hay tin ông Nguyễn Đình Thi, tổng thư ký hội nhà văn Việt Nam từ năm 1958 đến thăm và nói chuyện.
Anh chị em rất hồi hộp chờ đợi thần tượng văn học này từ lâu, nay được mãn nhãn. Tin một nhà văn, một nhà thơ, một nhà nghiên cứu triết học, một nhà viết kịch xuất sắc, một nhạc sĩ thiên tài chỉ với hai bản nhạc là ông Nguyễn Đình Thi đến nói chuyện được sứ quán thông báo cho mấy chục anh chị em đang làm luận án thạc sĩ, tiến sĩ văn học tại Liên Xô cùng đến khoa viết văn trường Goocky tham dự.

Phải nói ông Nguyễn Đình Thi với vẻ đẹp trai hiếm có, với tài hùng biện sắc sảo, với giọng nói ấm áp, dịu dàng, mê hoặc chúng tôi ngay từ phút đầu. Nhưng khônghiểu sao hôm nay ông lại giở giọng tuyên huấn khuyên bảo chúng tôi rằng, các bạn trẻ thân mến, các bạn sang đây học nhưng phải biết chắc lọc, chọn lọc, đừng nghe những giáo sư giảng thiên về đổi mới triệt để kiểu Gocbachốp mà làm phương hại đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mà đảng ta đang dựng xây.

Nghe chối tai, Trần Mạnh Hảo tôi bèn xin phát biểu ý kiến rằng : thưa nhà văn hóa lớn, các cụ cho chúng tôi sang học tập Liên Xô, sao lại còn sang tận nơi dặn chúng tôi không được nghe lời họ, vậy thì học làm gì ạ…
Ông Nguyễn Đình Thi nổi cáu, đe dọa tôi rằng, anh Hảo và các anh đây đều là đảng viên của đảng, không được nói vô tổ chức như vậy !

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

THỜI ĐẠI CHÚNG TÔI



Một bài thơ nói hộ cho một thế hệ người Việt Nam đã sống không nề gian khổ hy sinh, tâm huyết và trong sáng, tất cả vì cái chung, vì sự nghiệp độc lập, hoà bình, thống nhất đất nước.
Cảm động sao những vần thơ
Đọc xong bỗng thấy bất ngờ ướt mi!

Xin phép tác giả được đăng bài thơ này lên để mọi người có thể tham khảo, cùng suy ngẫm.

***

THỜI ĐẠI CHÚNG TÔI
Tác giả:  Phạm Minh Tâm

Có một thời như riêng của chúng tôi
Tổ quốc lâm nguy nước nhà vận hạn
Một thế hệ trai hùng gái đảm
Lớn lên bằng lòng dũng cảm đức hi sinh

Ấy là thời giặc giã chiến chinh
Những cuộc ra đi như đi vào huyền thoại
Những cuộc ra đi nhiều người không trở lại
Những cuộc chia li không hẹn ngày về.

Không có bùa hộ mệnh chở che
Triệu vọng phu thêm mỏi mòn chờ đợi
Con nhận mặt cha sau bàn thờ hương khói
Những tượng đài cao vòi vọi giữa trời.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

RƠM RẠ DẠI KHỜ

 




VÕ ĐẮC DANH
Hồi ấy, chị Vân thường rủ tôi ra đồng giữ trâu với chị, chị nói đi một mình sợ ma, rủ tôi đi cho vui. Đó là những ngày sau tết, lúa đã vô bồ, còn lại cánh đồng mênh mông gốc rạ. Vào những buổi trưa nắng, chị Vân bảo tôi cột trâu lại, còn chị tìm đến một cái gò cao, lựa một đám gốc rạ còn xanh, chị lấy dao cắt một lõm đủ hai người nằm rồi trãi dưới đất một lớp rạ khô, phần rạ tươi, chị phủ lên che nắng. Khi tôi cột xong mấy con trâu thì chị Vân cũng vừa làm xong cái chòi rạ. Chị nhìn tôi cười mĩm: “Giống cái túp lều lý tưởng hôn ?”. Rồi không ai bảo ai, chị nằm xuống trước, tôi nằm theo sau, cạnh chị. Thỉnh thỏang, chị lại nhìn sang tôi cười mĩm, tôi cũng cười, rồi cả hai chìm trong giấc ngủ trưa. Có hôm tôi thức trước, chị Vân vẫn còn ngủ say, chị nằm thẳng người, hai tay úp lên ngực, hơi thở cứ đều đều. Lúc ấy trời đã xế dài, những tia nắng dìu dịu trùm lên cánh đồng rạ khô vàng rực, mênh mông. Chị Vân ngồi bật dậy, lại nhìn tôi cười rồi lại vỗ lên đầu tôi: “Ngủ ngon hôn, thằng nhóc !”

Chúng tôi lùa trâu đến một cái đìa lớn giữa đồng, từng người bạn mục đồng cũng lần lượt lùa trâu đến. Tôi đứng dưới cầu thang múc từng thùng nước chuyền lên cho chị Vân đổ vào thau cho trâu uống. Như một thói quen, khi đàn trâu uống nước no nê thì đến lượt con người tắm rửa. Cả gái, cả trai cứ để nguyên quần áo, tắm xối xả trên bờ đìa. Trong bộ bà ba đen đẫm nước bó sát người, chị Vân gánh hai thùng nước đi tắt đường đồng về nhà, tôi ngồi trên lưng trâu lững thững theo sau. Đôi gánh oằn vai, chị đi trong bóng chiều thấp thóang.

Saigon xưa … cái thời xé tiền để ... thối lại !

 


Tôi xa quê hương ở vào tuổi không quá trẻ dại để dễ quên và cũng không quá già để chỉ dành toàn thời giờ cho một điều mất mát, rồi đau đớn. Tôi ở vào tuổi mà khi bước đến vùng đất mới, đời sống đã như lôi tôi đi trong một cơn lốc trên những con đường khác nhau trước mặt, hầu như không ngưng nghỉ. Tôi chóng mặt, nhưng tôi vẫn biết tôi là ai và tôi ở đâu trên quê người, nên những lúc tôi phải ngưng lại để thở là những lúc hồn quê nôn nao thức dậy trong tôi.

Mỗi lần nhớ đến quê nhà là nhớ đến Sài Gòn trước tiên. Sài Gòn không phải là phần đất dành riêng cho người miền Nam nữa, đối với người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954, người Trung chạy giặc năm 1968 thì Sài Gòn chính là phần đất quê nhà đáng nhớ nhất. Tôi lớn lên, sống cả một thời niên thiếu ở Sài Gòn. Đi học, dậy thì, yêu đương, mơ mộng, làm việc, lấy chồng, khóc, cười, rồi chia ly với Sài Gòn.

Tôi nhớ lại hồi bé theo bố mẹ di cư vào Sài Gòn. Ba tôi làm việc ở Nha Địa Chánh, nên từ những căn lều bạt trong trại tiếp cư Tân Sơn Nhất, gia đình tôi được dọn vào ở tạm một khu nhà ngang trong sở của Ba ở số 68 đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) sau lưng Bưu Điện. Tôi đi học, đi bộ băng qua hai con đường là tới trường Hòa Bình, bên hông nhà thờ Đức Bà. Tôi vào lớp Ba. Ngày đầu tiên cắp sách đến lớp, ma sơ là người Nam, hồi đó còn mặc áo dòng trắng, đội lúp đen.